Chi tiết bài viết

Báo cáo tổng kết Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021 - 2025 và đề xuất thực hiện giai đoạn 2026 - 2030

10:50, Thứ Ba, 17-6-2025

(Quang Binh Portal) - Ngày 17/6/2025, UBND tỉnh ban hành Báo cáo số 173/BC-UBND tỉnh về việc tổng kết Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021 - 2025 và đề xuất thực hiện giai đoạn 2026 - 2030

 


ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN GIAI ĐOẠN 2021-2025

I. CÔNG TÁC CHỈ ĐẠO, ĐIỀU HÀNH TRIỂN KHAI, THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH 

1. Đánh giá kết quả công tác xây dựng, ban hành và triển khai các cơ chế, chính sách, hướng dẫn thực hiện Chương trình ở các cấp

1.1. Kết quả ban hành các văn bản hướng dẫn, cụ thể hóa các cơ chế, chính sách và quy định của Trung ương theo phân cấp.

Sau khi Quốc hội ban hành Nghị quyết số 25/2021/QH15 về phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021 - 2025, trên cơ sở các văn bản chỉ đạo của Trung ương, HĐND tỉnh, UBND tỉnh, Ban Chỉ đạo các chương trình MTQG tỉnh đã ban hành các văn bản chỉ đạo thực hiện chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021 - 2025.
(Chi tiết theo phụ biểu số 01 kèm theo)

Nhìn chung, hệ thống cơ chế, chính sách và văn bản hướng dẫn thực hiện Chương trình giai đoạn 2021 - 2025 cơ bản đầy đủ. Các sở, ngành đã chủ động rà soát xây dựng các hướng dẫn thực hiện các tiêu chí, chỉ tiêu được phân công phụ trách. Đây là căn cứ pháp lý quan trọng để các sở, ngành, đơn vị, địa phương triển khai thực hiện. 

1.2. Kết quả ban hành các cơ chế, chính sách đặc thù phù hợp với điều kiện thực tế và đặc thù của địa phương nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả thực hiện Chương trình

- Chi hỗ trợ từ nguồn ngân sách tỉnh để động viên khuyến khích cho các xã phấn đấu đạt chuẩn nông thôn mới, nông thôn mới nâng cao, nông thôn mới kiểu mẫu. 

+ Xã đạt chuẩn NTM nâng cao: hỗ trợ 500 triệu đồng/xã.

+ Xã đạt chuẩn NTM kiểu mẫu: hỗ trợ 1.000 triệu đồng/xã.

+ Khu dân cư NTM kiểu mẫu: hỗ trợ 150 triệu đồng/1 khu dân cư.

+ Vườn mẫu NTM: hỗ trợ 10 triệu đồng/vườn mẫu.

+ Thôn, bản khó khăn đạt chuẩn NTM: hỗ trợ 250 triệu đồng/thôn, bản.

- Cơ chế huy động vốn: Tỉnh đã thực hiện lồng ghép các nguồn vốn của các Chương trình mục tiêu quốc gia, dự án hỗ trợ có mục tiêu trên địa bàn; cho phép UBND các xã giữ lại 80% tiền đấu giá quyền sử dụng đất đối với xã chưa đạt chuẩn NTM và 40% đối với xã đã đạt chuẩn NTM để phục vụ cho Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới; huy động các khoản đóng góp của nhân dân theo nguyên tắc tự nguyện. Ban hành các cơ chế, chính sách và văn bản hướng dẫn để thực hiện (Nghị quyết số 40/2022/NQ-HĐND ngày 10/12/2022 Ban hành Quy định cơ chế huy động nguồn lực và lồng ghép nguồn vốn giữa các chương trình mục tiêu quốc gia, giữa các chương trình mục tiêu quốc gia và các chương trình, dự án khác trên địa bàn tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2021-2025; Quyết định số 54/2022/QĐ-UBND ngày 28/11/2022 của UBND tỉnh Quy định quy trình, thủ tục thanh toán, quyết toán các nguồn vốn được lồng ghép từ nguồn vốn huy động và các nguồn vốn hợp pháp khác để thực hiện các Chương trình MTQG trên địa bàn tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2021-2025).

- Một số huyện, thị xã đã chủ động ban hành cơ chế đặc thù của địa phương

+ Hỗ trợ xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao, nông thôn mới kiểu mẫu năm 2024, mức hỗ trợ 200 triệu đồng/xã; hỗ trợ khu dân cư nông thôn mới kiểu mẫu, thôn bản ở xã khó khăn đạt chuẩn nông thôn mới, mức hỗ trợ 100 triệu đồng/thôn, bản; hỗ trợ 15 triệu đồng/sản phẩm OCOP 3 sao cấp huyện; 20 triệu đồng/sản phẩm đạt 4 sao, 20 triệu đồng/sản phẩm đạt 5 sao.

+ Cơ chế hỗ trợ đầu tư xây dựng đường giao thông; thu gom, xử lý rác thải, chất thải; chính sách hỗ trợ lãi vay tín dụng phục vụ phát triển sản xuất…

Hỗ trợ làm đường giao thông thôn, ngõ, xóm, kênh mương (bê tông hoặc nhựa với tỷ lệ ngân sách huyện 25%, xã, thị trấn 25%, hộ dân đóng góp 50% kinh phí.
Hỗ trợ lắp đặt hệ thống camera giám sát an ninh quy mô cấp xã trị giá từ 300 triệu đồng trở lên, mức hỗ trợ 50 triệu đồng/đơn vị.

+ Hỗ trợ xây dựng mới nhà văn hóa thôn, xóm, bản, tổ dân phố và đình làng lồng ghép các hoạt động văn hóa thể thao, mức hỗ trợ 100 triệu đồng/nhà (đối với mức đầu tư từ 0,5 - 1 tỷ đồng trở lên), 150 triệu đồng/nhà (đối với mức đầu tư trên 01 tỷ đồng).

+ Hỗ trợ cho thôn, bản, tổ dân phố có 05 năm liên tục được công nhận danh hiệu văn hóa, mức hỗ trợ 5 triệu đồng/đơn vị....

1.3. Đánh giá những khó khăn, bất cập, vướng mắc trong quá trình triển khai, áp dụng các văn bản vào thực tiễn

Đối với Bộ tiêu chí quốc gia về xã NTM nâng cao: Tại chỉ tiêu 6.1 – tiêu chí số 6 : Có lắp đặt các dụng cụ thể dục thể thao ngoài trời ở điểm công cộng; các loại hình hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao được tổ chức hoạt động thường xuyên. Đề nghị Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch nên quy định theo hướng khuyến khích nội dung: “Trung tâm Văn hóa Thể thao xã được quy hoạch, đầu tư xây dựng riêng biệt bên ngoài khu hành chính của xã, đảm bảo mọi nguời dân trong vùng đều được sử dụng thuận lợi và dễ dàng tiếp cận. Diện tích, quy mô và trang thiết bị thực hiện theo quy định tại khoản 1, 2, 3 Ðiều 6 Thông tư số 12/2010/TT-BVHTTDL” vì nếu Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa nội dung này vào hướng dẫn thì Sở Văn hóa và Thể thao của tỉnh không có căn cứ để bỏ ra khỏi hướng dẫn của Sở vì theo quy định tại tiểu mục 2.2, mục 2, phần II về trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (Hướng dẫn số 1807/HD-BVHTTDL ngày 26/4/2024 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch): “Trên cơ sở hướng dẫn của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành quy định, chỉ tiêu cụ thể theo vùng đối với các nhóm xã, huyện phù hợp với điều kiện đặc thù, nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội, đảm bảo mức đạt chuẩn không thấp hơn so với quy dịnh của Trung ương”.

2. Đánh giá kết quả thực hiện công tác kiện toàn, thành lập hệ thống bộ máy chỉ đạo, tổ chức thực hiện Chương trình các cấp

2.1. Kết quả thực hiện công tác kiện toàn, thành lập Ban Chỉ đạo thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2021-2025; hệ thống cơ quan tham mưu, thực hiện Chương trình ở các cấp; bố trí cán bộ chuyên trách về xây dựng nông thôn mới ở xã.

Kết quả kiện toàn Ban Chỉ đạo các Chương trình MTQG các cấp: UBND tỉnh đã kiện toàn Ban Chỉ đạo các Chương trình MTQG tỉnh giai đoạn 2021 – 2025 tại Quyết định số 1044/QĐ-UBND ngày 22/4/2022. Trong đó, Sở Kế hoạch và Đầu tư là cơ quan thường trực của BCĐ, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là cơ quan chủ trì Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội là cơ quan chủ trì Chương trình mục tiêu giảm nghèo bền vững và Ban Dân tộc là cơ quan chủ trì Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Cấp huyện cũng đã kiện toàn Ban Chỉ đạo giai đoạn 2021 – 2025 với tổng số thành viên là 308 người.

Kết quả kiện toàn bộ máy tổ chức tham mưu, giúp việc Ban Chỉ đạo các cấp thực hiện Chương trình: Đã kiện toàn Văn phòng Điều phối Chương trình MTQG xây dựng Nông thôn mới tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2021 – 2025 tại Quyết định số 1227/QĐ-UBND ngày 16/5/2022, Quyết định số 1213/QĐ-UBND ngày 09/05/2024. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã thành lập Tổ công tác Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2021 – 2025 (Quyết định số 591/QĐ-SNN ngày 09/8/2022). Cấp huyện cũng đã kiện toàn Văn phòng Điều phối giai đoạn 2021 – 2025. Cấp xã thành lập và kiện toàn Ban quản lý xã, Ban phát triển thôn. Một số xã thành lập bổ sung các tiểu ban giúp việc (XDCB, giám sát, tuyên truyền…).

2.2. Việc xây dựng quy chế hoạt động/phân công nhiệm vụ của thành viên Ban Chỉ đạo ở các cấp/phân cấp giữa Ban Chỉ đạo ở các cấp; mô hình tổ chức, quản lý chương trình từ Trung ương đến địa phương.

Ban Chỉ đạo các chương trình MTQG tỉnh đã ban hành Quyết định số 122/QĐ-BCĐ về quy chế hoạt động Ban Chỉ đạo, trong đó quy định cụ thể nguyên tắc làm việc, nhiệm vụ quyền hạn của Ban Chỉ đạo, Trưởng Ban Chỉ đạo và từng thành viên; phân công nhiệm vụ cụ thể cho thành viên Ban

Chỉ đạo; quy định chế độ làm việc và quan hệ phối hợp trong công tác của Ban Chỉ đạo. Trên cơ sở nhiệm vụ Ban Chỉ đạo tỉnh, UBND tỉnh giao, các sở ngành theo chức năng, nhiệm vụ chủ động phối hợp triển khai các nội dung theo lĩnh vực của từng ngành. Các địa phương báo cáo tình hình triển khai, kết quả thực hiện về cơ quan chủ trì. Các huyện, thị xã, thành phố cũng đã ban hành Quy chế hoạt động và phân công nhiệm vụ cho các thành viên Ban Chỉ đạo. Tuy nhiên, việc sử dụng cán bộ kiêm nhiệm, không ổn định đã ảnh hưởng lớn đến việc theo dõi chỉ đạo, triển khai thực hiện ở các cấp nói chung.

2.3. Công tác phối hợp giữa Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Cơ quan chủ trì Chương trình), các bộ, ngành trung ương có liên quan, các địa phương; Vai trò điều phối của cơ quan tham mưu, thực hiện Chương trình ở các cấp và cơ chế phối hợp giữa các sở, ngành ở địa phương với cơ sở (huyện, xã) trong quản lý, chỉ đạo và triển khai Chương trình.

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các bộ, ngành trung ương có liên quan luôn phối hợp chặt chẽ, kịp thời với UBND tỉnh, các sở ngành của tỉnh trong việc chỉ đạo, hướng dẫn triển khai thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Văn phòng Điều phối Trung ương thường xuyên ban hành văn bản để chỉ đạo thực hiện. Bên cạnh đó, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thường xuyên tổ chức hội nghị trực tuyến để chỉ đạo, trao đổi những khó khăn, vướng mắc và kịp thời tháo gỡ trong quá trình triển khai thực hiện Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021 - 2025. 

Ban Chỉ đạo các Chương trình MTQG tỉnh thường xuyên ban hành văn bản chỉ đạo; tổ chức họp, làm việc với các địa phương; ban hành kế hoạch kiểm tra, giám sát việc thực hiện Chương trình. Các sở, ngành được phân công phụ trách các tiêu chí đã chủ động tham mưu ban hành các cơ chế chính sách, văn bản chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện các nội dung chương trình; xây dựng kế hoạch hằng năm tổ chức thực hiện Chương trình theo lĩnh vực phân công phụ trách; thẩm định xã đạt chuẩn NTM, NTM nâng cao, kiểu mẫu; thực hiện công tác kiểm tra xây dựng NTM tại cơ sở. Văn phòng Điều phối nông thôn mới tỉnh, tổ công tác tỉnh tiếp tục tham mưu Ban Chỉ đạo tỉnh kiểm tra, hướng dẫn việc thực hiện chương trình.

Định kỳ hằng quý, 6 tháng và một năm, UBND huyện tổ chức hội nghị để đánh giá kết quả và đề xuất các giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn vướng mắc cho cơ sở trong quá trình triển khai thực hiện; thành viên Ban Chỉ đạo và các cơ quan chuyên môn thường xuyên kiểm tra nắm bắt tình hình và kịp thời tháo gỡ khó khăn cho cơ sở để đề xuất giải pháp thực hiện. Các xã đã chủ động, quyết tâm, nỗ lực trong thực hiện Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới, xây dựng kế hoạch tổ chức thực hiện để hoàn thành mục tiêu đề ra; các thôn thực hiện xây dựng thôn nông thôn mới ban hành Nghị quyết của Chi bộ chỉ đạo việc xây dựng kế hoạch, tuyên truyền tổ chức họp dân, xây dựng phương án thực hiện.

2.4. Đánh giá những thuận lợi, khó khăn, bất cập trong quá trình thực hiện
Nhìn chung, bộ máy chỉ đạo và tổ chức thực hiện các chương trình MTQG được kiện toàn, bổ sung, điều chỉnh theo từng giai đoạn, ngày càng được hoàn thiện, đổi mới và kiện toàn để phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và tình hình thực tiễn; góp phần tăng tính hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các Chương trình; tạo sự liên kết có tính hệ thống và sự phối hợp chặt chẽ giữa VPĐP các cấp trong thực hiện nhiệm vụ được giao; cơ bản đáp ứng yêu cầu công tác chỉ đạo điều hành. Tuy nhiên, lực lượng cán bộ kiêm nhiệm là chủ yếu, chuyên trách còn ít nên khối lượng công việc quá nhiều; chưa có điều kiện để sâu sát trong theo dõi, thực hiện chương trình ở cơ sở, đặc biệt là cấp xã và thôn, bản.
3. Đánh giá kết quả triển khai công tác lập kế hoạch, phân bổ, sử dụng vốn ngân sách Trung ương và huy động các nguồn lực thực hiện Chương trình
3.1. Công tác phân bổ, giao kế hoạch vốn ngân sách trung ương (vốn đầu tư phát triển, vốn sự nghiệp) thực hiện Chương trình giai đoạn 2021-2025 và hằng năm theo quy định tại Quyết định số 07/2022/QĐ-TTg ngày 25/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ quy định nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ vốn ngân sách trung ương và tỷ lệ vốn đối ứng của ngân sách địa phương thực hiện Chương trình giai đoạn 2021-2025 (sau đây gọi tắt là Quyết định số 07/2022/QĐ-TTg ngày 25/3/2022), Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và các quy định khác có liên quan

Đối với nguồn vốn đầu tư phát triển: Sau khi có thông báo vốn giai đoạn 2021-2025 của Trung ương, căn cứ Quyết định số 07/2022/QĐ-TTg ngày 25/3/2022 và các văn bản hướng dẫn của các bộ, ngành, HĐND tỉnh đã ban hành Nghị quyết phân bổ vốn đầu tư phát triển ngân sách Trung ương và vốn đối ứng ngân sách địa phương giai đoạn 2022-2025. Hằng năm, sau khi có thông báo vốn của Trung ương, căn cứ định mức phân bổ vốn cho từng đối tượng xã đã được thông qua tại Nghị quyết và số vốn được trung ương thông báo, HĐND tỉnh phân bổ nguồn vốn cho các huyện, thành phố, thị xã thực hiện.

Đối với nguồn vốn sự nghiệp: Hằng năm, căn cứ thông báo của Trung ương, trên cơ sở các Thông tư hướng dẫn của Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, căn cứ nhu cầu thực tế thực hiện tại địa phương, HĐND tỉnh ban hành Nghị quyết phân bổ vốn sự nghiệp cho các đơn vị cấp tỉnh và cấp huyện thực hiện.

3.2. Tổng vốn ngân sách trung ương giao thực hiện Chương trình giai đoạn 2021 - 2025

Tổng vốn ngân sách Trung ương (vốn đầu tư phát triển, vốn sự nghiệp) giai đoạn 2021 - 2025 được Thủ tướng Chính phủ giao (tại các Quyết định số 652/QĐ-TTg ngày 28/5/2022, số 147/QĐ-TTg ngày 23/02/2023 của Thủ tướng Chính phủ) là 782,841 tỷ đồng, trong đó vốn đầu tư phát triển là 618,050 tỷ đồng; vốn sự nghiệp là 164,791 tỷ đồng.

Tổng vốn ngân sách trung ương (vốn đầu tư phát triển, vốn sự nghiệp) thực tế giao thực hiện Chương trình giai đoạn 2021 - 2025 của địa phương là 782,841 tỷ đồng, trong đó, vốn đầu tư phát triển là 618,050 tỷ đồng; vốn sự nghiệp là 164,791 tỷ đồng.

3.2. Kết quả huy động nguồn lực: Nguồn lực huy động bao gồm: Nguồn cân đối bố trí từ NSNN (nguồn hỗ trợ từ NSTW, nguồn vốn đối ứng từ NSĐP, nguồn vốn nước ngoài hòa đồng NSNN); nguồn vốn lồng ghép từ Chương trình MTQG giảm nghèo bền vững, Chương trình MTQG phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, các chương trình, dự án khác góp phần hoàn thành các tiêu chí nông thôn mới; nguồn vốn tín dụng; nguồn vốn doanh nghiệp; huy động đóng góp tự nguyện của người dân và cộng đồng (bao gồm cả hiện vật, sức lao động của người dân tham gia được quy đổi ra tiền). Dự kiến tổng nguồn lực huy động giai đoạn 2021 - 2025 để thực hiện Chương trình là: 25.902,114 tỷ đồng, trong đó:

- Vốn Ngân sách Trung ương bố trí trực tiếp: 782,841 tỷ đồng.

- Vốn Ngân sách địa phương: 1.917,379 tỷ đồng.

- Vốn Lồng ghép từ các Chương trình dự án: 1.648,081 tỷ đồng.

- Vốn Tín dụng: 21.000,0 tỷ đồng.

- Vốn Doanh nghiệp: 45,8 tỷ đồng.

- Huy động đóng góp của người dân: 508,013 tỷ đồng

3.3. Kết quả xử lý nợ đọng xây dựng cơ bản trong thực hiện Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới: Không có nợ đọng xây dựng cơ bản trong thực hiện Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới.

3.4. Đánh giá: Đầu giai đoạn 2021 - 2025, Trung ương đã có văn bản giao vốn và các văn bản hướng dẫn thực hiện. Trên cơ sở đó tỉnh đã chủ động để triển khai thực hiện. Việc sử dụng vốn Ngân sách Trung ương được thực hiện nghiêm theo đúng các quy định của Trung ương. UBND tỉnh cũng đã chủ động lồng ghép vốn Ngân sách tỉnh để đối ứng thực hiện. Tuy nhiên, việc giải ngân nguồn vốn vẫn còn chậm và gặp một số khó khăn do có sự thay đổi nhiều về các quy định đấu thầu, cũng như việc áp dụng cơ chế đặc thù trong xây dựng nông thôn mới khó thực hiện. Việc huy động sự đóng góp của người dân cũng như doanh nghiệp cho xây dựng nông thôn mới còn hạn chế.

II. KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÁC MỤC TIÊU CỦA CHƯƠNG TRÌNH GIAI ĐOẠN 2021 - 2025

1. Kết quả thực hiện các nội dung, nội dung thành phần của Chương trình trên địa bàn xã (đã được phê duyệt tại Quyết định số 263/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ).

1.1. Kết quả triển khai các nội dung thành phần của Chương trình 

1.1.1. Nội dung thành phần số 01: Nâng cao hiệu quả quản lý và thực hiện xây dựng nông thôn mới theo quy hoạch nhằm nâng cao đời sống kinh tế

- xã hội nông thôn gắn với quá trình đô thị hoá

Đến nay, 100% số xã hoàn thành tiêu chí về Quy hoạch Nông thôn mới, chất lượng quy hoạch xây dựng nông thôn mới của các xã về cơ bản đã thực hiện đúng các nội dung theo hướng dẫn của tỉnh và Thông tư liên tịch số 13/2011/TTLT-BXD-NN&PTNT-TN&MT. Có khoảng 70% các xã đã tổ chức lập, phê duyệt xong Quy hoạch chung xã giai đoạn từ 2021 đến 2030; một số xã còn lại đang trong quá trình lập, hoàn thiện đồ án quy hoạch đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn mới. Các khu vực dân cư nông thôn, các điểm dịch vụ thương mại, hỗ trợ phát triển ngành nghề nông thôn đang được tổ chức lập theo nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương. 

1.1.2. Nội dung thành phần số 02: Phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội, cơ bản đồng bộ, hiện đại, đảm bảo kết nối nông thôn - đô thị và kết nối các vùng miền.

Hạ tầng kinh tế xã hội nông thôn tiếp tục được cải thiện, phục vụ thiết thực hơn cho đời sống sinh hoạt và sản xuất của người dân nông thôn, góp phần thay đổi bộ mặt nông thôn ngày càng khang trang, hiện đại, cụ thể :
* Tiêu chí Giao thông: Giao thông nông thôn đã có bước phát triển vượt bậc, nhiều địa phương đã lồng ghép các chương trình, dự án và nguồn vốn đầu tư để mở rộng, nâng cấp các tuyến đường giao thông. Đến nay, có 113 xã (92,6%) đạt tiêu chí Giao thông.

* Tiêu chí Thuỷ lợi và PCTT: Hạ tầng thủy lợi từng bước được đầu tư theo hướng hiện đại, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu tái cơ cấu nông nghiệp. Nhờ tranh thủ các nguồn vốn đầu tư mới, nâng cấp, sửa chữa nên đến nay toàn tỉnh có có 154 hồ chứa các loại; 193 đập dâng; 296 trạm bơm, 348 cống đầu mối, 81 cống qua đê và 1.934 km kênh mương các loại cung cấp nước tưới cho hơn 52.000ha lúa, 600ha màu, cấp nước sinh hoạt cho hơn 600.000 dân. Tỷ lệ tưới tiêu chủ động được giữ vững 98% góp phần phát triển đa dạng, tăng năng suất cây trồng, tạo điều kiện thực hiện cơ cấu lại nông nghiệp, góp phần xây dựng nông thôn mới. Đến nay, có 120 xã (98,4%) đạt tiêu chí Thủy lợi và phòng, chống thiên tai.

* Tiêu chí Điện: Hệ thống lưới điện trên địa bàn tỉnh được đầu tư tương đối hoàn thiện, thường xuyên được quan tâm đầu tư xây dựng mới, cải tạo, sửa chữa, duy tu bảo dưỡng, 122/122 xã có điện đến trung tâm xã, với hơn 99,26% số hộ dân được sử dụng điện từ lưới điện quốc gia; một số thôn, bản khác đã được cấp điện bằng nguồn năng lượng mặt trời. Đến nay, điện lưới quốc gia đã cấp điện cho trung tâm của 02 xã Tân Trạch, Thượng Trạch; Bản Arem xã Tân Trạch và 08 bản xã Thượng Trạch; còn 10 bản chưa lắp đặt, kéo điện lưới vào từng hộ dân do nguồn kinh phí còn hạn chế. Đến nay, có 118 xã (96,7%) đạt tiêu chí Điện.

* Tiêu chí Trường học: UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 803/KH-UBND ngày 14/5/2020 về thực hiện đề án đảm bảo cơ sở vật chất cho Chương trình mầm non và giáo dục phổ thông giai đoạn 2021 – 2025 trên địa bàn tỉnh Quảng Bình. Trên cơ sở kế hoạch của tỉnh, các địa phương đã chỉ đạo UBND các xã phối hợp với các phòng ban cấp huyện lập quy hoạch sử dụng đất, trong đó ưu tiên nhu cầu mở rộng các điểm trường; thiết kế xây dựng trường học đảm bảo tiêu chuẩn quy định; chỉ đạo tập trung nguồn lực đầu tư các hạng mục công trình cơ bản gồm: xây dựng mới, cải tạo, sửa chữa phòng học, phòng học bộ môn, khối phụ trợ, nhà vệ sinh...; đầu tư kinh phí mua sắm trang thiết bị dạy học. Đến nay, có 111 trường học đạt tiêu chuẩn CSVC tối thiểu, 249 trường đạt tiêu chuẩn CSVC mức độ 1 trở lên, 35 trường đạt tiêu chuẩn CSVC mức độ 2 trở lên. Toàn tỉnh có 108 xã (88,5%) đạt tiêu chí Trường học.

* Tiêu chí Cơ sở vật chất văn hoá: Việc huy động nguồn lực của toàn xã hội cho việc cải tạo, nâng cấp và trang bị mới các thiết chế văn hóa ở các thôn, bản; hệ thống các thiết chế văn hóa trên địa bàn tỉnh đã được cải thiện. Việc quy hoạch, đầu tư xây dựng, sử dụng các thiết chế văn hóa từ tỉnh đến cơ sở từng bước hoàn thiện, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hóa, tinh thần của người dân, góp phần nâng cao ý thức của nhân dân trong việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa trong xây dựng nông thôn mới, phát huy tính dân chủ, tinh thần đoàn kết và nhu cầu hưởng thụ văn hóa, rút ngắn khoảng cách văn hóa giữa các vùng miền trong tỉnh. Đặc biệt các thiết chế văn hóa, thể thao cơ sở như Trung tâm văn hóa xã, Nhà văn hóa - khu thể thao thôn, bản đã phát huy công năng, hiệu quả sử dụng, phục vụ nhu cầu của người dân. Đến nay, có 110 xã (90,2%) đạt tiêu chí Cơ sở vật chất văn hóa.
* Tiêu chí Cơ sở hạ tầng thương mại nông thôn: Trên địa bàn tỉnh có 141 chợ đang hoạt động, trong đó có 22 chợ thành thị và 119 chợ nông thôn. Trong thời gian qua, mạng lưới chợ trên trên địa bàn tỉnh dần được nâng cấp, cải tạo, một số chợ được xây mới đáp ứng nhu cầu mua bán của người dân. Các địa phương đã lập chương trình, kế hoạch, lộ trình để triển khai thực hiện tiêu chí Cơ sở hạ tầng thương mại nông thôn trên địa bàn mình quản lý. Đến nay, có 115 xã (94,3%) đạt tiêu chí Cơ sở hạ tầng thương mại nông thôn.

* Tiêu chí Thông tin và Truyền thông: Việc hoàn thành các chỉ tiêu NTM về Thông tin và Truyền thông đã đáp ứng yêu cầu chất lượng dịch vụ bưu chính, viễn thông, phát triển hạ tầng viễn thông, mạng lưới truyền dẫn băng rộng đa dịch vụ trên địa bàn các xã thực hiện Chương trình NTM; vùng phủ sóng thông tin di động được mở rộng; có hạ tầng kỹ thuật viễn thông sẵn sàng đáp ứng nhu cầu sử dụng dịch vụ của nhân dân. Cùng với hệ thống Đài Truyền thanh - Truyền hình các huyện, thị xã, thành phố, hệ thống truyền thanh tại các xã, phường, thị trấn đã góp phần quan trọng trong thực hiện công tác thông tin, tuyên truyền. Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý điều hành đã mang lại lợi ích thiết thực đối với chính quyền địa phương cấp xã. Đến nay, có 120 xã (98,4%) đạt tiêu chí Thông tin và Truyền thông.

1.1.3. Nội dung thành phần số 03: Tiếp tục thực hiện có hiệu quả cơ cấu lại ngành nông nghiệp, phát triển kinh tế nông thôn; triển khai mạnh mẽ Chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP) nhằm nâng cao giá trị gia tăng, phù hợp với quá trình chuyển đổi số, thích ứng với biến đổi khí hậu; phát triển mạnh ngành nghề nông thôn; phát triển du lịch nông thôn; nâng cao hiệu quả hoạt động của các hợp tác xã; hỗ trợ các doanh nghiệp khởi nghiệp ở nông thôn; nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn... góp phần nâng cao thu nhập người dân theo hướng bền vững 
Thực hiện Quyết định số 255/QĐ-TTg ngày 25/02/2021 của Thủ tướng Chính phủ (TTCP) phê duyệt Kế hoạch cơ cấu lại ngành nông nghiệp giai đoạn 2021-2025. UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 2305/KH-UBND ngày 18/10/2021 về Cơ cấu lại ngành nông nghiệp tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2021-2025. Chỉ đạo UBND các huyện, thị xã, thành phố xây dựng Kế hoạch cơ cấu lại ngành nông nghiệp giai đoạn 2021-2025 phù hợp với điều kiện từng địa phương. Với mục tiêu tiếp tục thực hiện cơ cấu lại ngành nông nghiệp theo hướng phát triển bền vững, nâng cao chất lượng, giá trị gia tăng và khả năng cạnh tranh; bảo vệ môi trường sinh thái; nâng cao thu nhập cho người dân ở khu vực nông thôn; đảm bảo an ninh lương thực và an ninh quốc phòng. Đẩy mạnh phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại, nông nghiệp sạch, nông nghiệp hữu cơ, thích ứng với biến đổi khí hậu, gắn với công nghiệp chế biến và kết nối bền vững với chuỗi giá trị nông sản toàn cầu. Nông nghiệp phát triển theo hướng hàng hóa, chất lượng, giá trị; cơ cấu sản xuất chuyển dịch theo hướng phát huy các lĩnh vực, sản phẩm lợi thế, chuyển mạnh sang sản xuất hàng hoá phù hợp với nhu cầu thị trường và thích ứng với biến đổi khí hậu; cơ cấu cây trồng, vật nuôi chuyển dịch đúng hướng. Nhiều TBKT, công nghệ mới có hiệu quả đã được nhân rộng vào sản xuất, hướng tới nền nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp hữu cơ, thân thiện với môi trường; các mô hình sản xuất áp dụng quy trình sản xuất nông nghiệp an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP, sử dụng tem truy xuất nguồn gốc cho sản phẩm nông thủy sản trước khi đưa ra thị trường tiêu thụ bước đầu mang lại hiệu quả cao, góp phần nâng cao chất lượng và từng bước xây dựng thương hiệu sản phẩm; tỷ lệ lao động qua đào tạo ngày càng tăng, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động nông thôn; kết cấu hạ tầng phục vụ nông nghiệp, nông thôn theo hướng hiện đại được quan tâm đầu tư. Phát triển nông nghiệp ứng dụng CNC Quảng Bình có tốc độ phát triển khá nhanh, trên nhiều lĩnh vực. Kinh tế tập thể tiếp tục phát huy vai trò, vị trí trong hợp tác, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho thành viên, người lao động. Đến nay, toàn tỉnh có 365 HTX nông lâm nghiệp và thủy sản; 01 liên hiệp HTX Nông nghiệp; 55 HTX ứng dụng công nghệ cao, 100 HTX nông nghiệp tham gia liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm cho các hộ thành viên. Kinh tế trang trại phát triển đa dạng trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt các doanh nghiệp đã tham gia đầu tư vào các trang trại, liên kết giữa chủ trang trại với doanh nghiệp ngày càng nhiều, nhất là các trang trại chăn nuôi. Toàn tỉnh có 342 trang trại, có 51 trang trại sử dụng công nghệ cao, 15 trang trại tham gia chuỗi liên kết sản xuất. Chương trình OCOP đạt được nhiều kết quả khả quan, đến nay toàn tỉnh có 221 sản phẩm OCOP được công nhận còn thời hạn, trong đó có 186 sản phẩm OCOP đạt 3 sao, 32 sản phẩm OCOP đạt 4 sao, 03 sản phẩm OCOP đạt tiềm năng 5 sao (hiện đang trình Trung ương đánh giá, phân hạng sản phẩm OCOP cấp quốc gia), với 114 chủ thể kinh tế có sản phẩm OCOP được công nhận, gồm 61 hợp tác xã, 21 doanh nghiệp, 32 hộ kinh doanh cá thể. Đến nay, có 106 xã (86,9%) đạt tiêu chí về Thu nhập; Có 118 xã (96,7%) đạt tiêu chí về Lao động; Có 113 xã (92,6%) đạt tiêu chí Tổ chức sản xuất và PTKTNT.

1.1.4. Nội dung thành phần số 04: Giảm nghèo bền vững, đặc biệt là vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, vùng bãi ngang ven biển và hải đảo.

- Chương trình MTQG giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025 được triển khai đồng bộ đã mang lại hiệu quả thiết thực. Tỷ lệ hộ nghèo đa chiều khu vực nông thôn: 3,75%; tổng số hộ: 7.671 hộ; Tỷ lệ hộ cận nghèo khu vực nông thôn: 3,9%; tổng số hộ cận nghèo: 7.978 hộ. Đến nay, có 106 xã (86,9%) đạt tiêu chí về Nghèo đa chiều.

- Triển khai hiệu quả các chính sách hỗ trợ nhà ở, xóa nhà tạm, dột nát; nâng cao chất lượng nhà ở dân cư. Đến nay, có 113 xã (92,6%) đạt tiêu chí về Nhà ở dân cư.

1.1.5. Nội dung thành phần số 05: Nâng cao chất lượng giáo dục, y tế và chăm sóc sức khỏe người dân nông thôn

- Giáo dục và Đào tạo: Công tác quản lý và nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục tiếp tục được chú trọng. Công tác xây dựng cơ sở vật chất, kiên cố hoá tr¬ường lớp học tiếp tục đ¬ược quan tâm theo hướng chuẩn hóa. UBND tỉnh đã ban hành kế hoạch thực hiện công tác kiểm định chất lượng giáo dục giai đoạn 2023 – 2025 trên địa bàn tỉnh. Đến nay, có 118 xã (96,7%) đạt tiêu chí Giáo dục và Đào tạo.

- Y tế: Mạng lưới y tế cơ sở tiếp tục được củng cố, đổi mới đóng vai trò quan trọng trong hoạt động y tế dự phòng và chăm sóc sức khỏe ban đầu, góp phần giảm tải cho tuyến trên. Số xã có trạm y tế đủ điều kiện, khám chữa bệnh bảo hiểm y tế là 122/122 xã. Công tác khám chữa bệnh cho nhân dân tại các xã đạt tiêu chí quốc gia về y tế có chuyển biến tích cực, chất lượng khám chữa bệnh được nâng cao, thu hút bệnh nhân đến khám và điều trị. Chương trình chăm sóc sức khỏe, dinh dưỡng bà mẹ - trẻ em nhằm giảm tử vong bà mẹ, tử vong trẻ em, nâng cao tầm vóc, thể lực người dân tộc thiểu số cũng được chú trọng bằng nhiều hình thức. Trong đó, tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng thể thấp còi ngày càng giảm (chiều cao theo tuổi), năm 2024 còn 19,1%. Đến nay, có 115 xã (94,3%) đạt tiêu chí về Y tế.

1.1.6. Nội dung thành phần số 06: Nâng cao chất lượng đời sống văn hóa của người dân nông thôn; bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống theo hướng bền vững gắn với phát triển du lịch nông thôn

Chất lượng phong trào xây dựng gia đình văn hóa, thôn bản văn hóa được chú trọng. Các huyện, thị xã, thành phố đã thành lập và tổ chức hoạt động các Câu lạc bộ về phòng, chống bạo lực gia đình, xây dựng gia đình hạnh phúc, các mô hình về “Ông bà mẫu mực, con cháu thảo hiền” và thực hiện thí điểm bộ tiêu chí ứng xử trong gia đình. Thực hiện các chương trình, kế hoạch, đề án về công tác gia đình và phòng, chống bạo lực gia đình nhằm hướng đến mục tiêu xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc; phát huy các mối quan hệ tốt đẹp trong gia đình để làm hạt nhân giữ vững, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Đến nay, có 116 xã (95,1%) đạt tiêu chí về Văn hóa.

1.1.7. Nội dung thành phần số 07: Nâng cao chất lượng môi trường; xây dựng cảnh quan nông thôn sáng - xanh - sạch - đẹp, an toàn; giữ gìn và khôi phục cảnh quan truyền thống của nông thôn Việt Nam 

Công tác bảo vệ môi trường nông thôn trên địa bàn tỉnh ngày càng được tăng cường; các điểm nóng về ô nhiễm môi trường cơ bản đã được kiểm soát, xử lý; tình trạng ô nhiễm môi trường kéo dài tại một số cơ sở sở sản xuất đã được chấm dứt; ý thức chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường của doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân từng bước được nâng cao; các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ đã chú trọng đầu tư các công trình xử lý môi trường, kiểm soát ô nhiễm và bảo vệ môi trường... Công tác vệ sinh môi trường đã được các địa phương quan tâm, thực hiện nghiêm túc, môi trường nông thôn dần được cải thiện; tuyên truyền, vận động nhân dân tăng cường trồng hoa, cây xanh phân tán tại các khu vực công cộng, các tuyến đường giao thông; đẩy mạnh xây dựng, nhân rộng các mô hình: thôn, xóm sáng - xanh - sạch - đẹp, an toàn, nông thôn mới kiểu mẫu  gắn xây dựng cảnh quan môi trường với phát triển du lịch nông thôn và xây dựng đời sống văn hóa cơ sở. Đến nay, có 108 xã (88,5%) đạt tiêu chí về Môi trường và An toàn thực phẩm.

1.1.8. Nội dung thành phần số 08: Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng các dịch vụ hành chính công; nâng cao chất lượng hoạt động của chính quyền cơ sở; thúc đẩy quá trình chuyển đổi số trong NTM, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ số, xây dựng NTM thông minh; bảo đảm và tăng cường khả năng tiếp cận pháp luật cho người dân; tăng cường giải pháp nhằm đảm bảo bình đẳng giới và phòng chống bạo lực trên cơ sở giới 

Các nền tảng, hệ thống thông tin chính quyền số dùng chung quan trọng của tỉnh tiếp tục được xây dựng, nâng cấp và tổ chức vận hành, khai thác hiệu quả . Các sở, ban, ngành, địa phương tiếp tục thực hiện tiếp nhận, kế thừa, phát triển, sử dụng các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu đã được Trung ương đầu tư, xây dựng hoặc hướng dẫn triển khai tại tỉnh (Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, hộ tịch, đất đai, đăng ký doanh nghiệp, dân số, tài chính, bảo hiểm...); tích cực tham mưu xây dựng, triển khai ứng dụng có hiệu quả các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu dùng chung, chuyên ngành của tỉnh, thường xuyên cập nhật, làm mới, làm giàu dữ liệu phục vụ quản lý, điều hành, giải quyết dịch vụ công và từng bước cung cấp dữ liệu mở cho cộng đồng xã hội.

Các hoạt động tư pháp được triển khai thực hiện nghiêm túc, đúng quy định của pháp luật. Công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật theo chuyên đề được tập trung chỉ đạo thực hiện tốt. Nâng cao nhận thức, thông tin về trợ giúp pháp lý; tăng cường khả năng thụ hưởng dịch vụ trợ giúp pháp lý. Định kỳ hàng năm, Sở Tư pháp tổ chức và phối hợp với UBND cấp huyện bồi dưỡng kiến thức pháp luật và tập huấn nghiệp vụ về chuẩn tiếp cận pháp luật cho 100% đội ngũ công chức Tư pháp - Hộ tịch cấp xã thông qua tổ chức hội nghị, cấp phát tài liệu nghiệp vụ…Tăng cường giải pháp nhằm đảm bảo bình đẳng giới và phòng chống bạo lực trên cơ sở giới; tăng cường chăm sóc, bảo vệ trẻ em và hỗ trợ những người dễ bị tổn thương trong các lĩnh vực của gia đình và đời sống xã hội. Để nâng cao hiệu quả các chỉ tiêu, tiêu chí tiếp cận pháp luật nói chung và các mô hình điển hình về phổ biến, giáo dục pháp luật, hòa giải ở cơ sở nói riêng, các địa phương đã xây dựng và áp dụng nhiều mô hình, giải pháp đem lại hiệu quả cao . Đến nay, có 119 xã (97,5%) đạt tiêu chí về Hệ thống chính trị và TCPL.

1.1.9. Nội dung thành phần số 09: Nâng cao chất lượng, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội trong xây dựng NTM 

Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Việt Nam tỉnh tiếp tục chỉ đạo, hướng dẫn Mặt trận các cấp thực hiện Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới thông qua cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh” phù hợp với chức năng và nhiệm vụ của Mặt trận; tiếp tục thực hiện chương trình phối hợp giữa UBND tỉnh và Ủy ban MTTQVN tỉnh; Mặt trận cấp huyện đã tham mưu cho cấp ủy Đảng cùng cấp ban hành chỉ thị, công văn chỉ đạo thực hiện phong trào và cuộc vận động tại địa phương; xây dựng kế hoạch và triển khai thực hiện cuộc vận động; phối hợp với Ban Chỉ đạo cấp huyện lấy ý kiến đánh giá sự hài lòng của người dân trong xây dựng nông thôn mới. Công tác xây dựng mô hình điểm được chú trọng với nhiều mô hình hay, sáng tạo phù hợp với thực trạng từng địa phương. Từ 08 mô hình cấp tỉnh về “xây dựng mô hình khu dân cư nông thôn mới, nông thôn mới kiểu mẫu và đô thị văn minh kiểu mẫu giai đoạn 2020 – 2025”, hiện nay đã trở thành phong trào thi đua với 323 mô hình được nhân rộng. Cuộc vận động đã góp phần quan trọng trong việc xây dựng nông thôn mới và văn minh đô thị, góp phần đẩy nhanh tiến độ về đích của các xã đạt chuẩn nông thôn mới hàng năm. 

Phong trào thi đua “Nông dân thi đua sản xuất kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau làm giàu và giảm nghèo bền vững” đã có sức thu hút và tạo sự gắn bó ngày càng chặt chẽ giữa tổ chức Hội với hội viên, nông dân, góp phần thúc đẩy xây dựng, củng cố tổ chức Hội ngày càng vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Hàng năm, các hội viên nông dân đăng ký phấn đấu đạt danh hiệu sản xuất, kinh doanh giỏi các cấp. Thông qua phong trào cán bộ, hội viên nông dân đã đóng góp tiền mặt, ngày công và cây giống, con giống, vật tư nông nghiệp để giúp đỡ hộ nghèo, hộ cận nghèo.

Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh triển khai thực hiện Đề án “Hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp” với nhiều hoạt động như: Tổ chức diễn đàn “Phụ nữ với chiến lược kinh doanh thời đại 4.0” với sự tham gia của 55 nữ quản lý, điều hành HTX, THT và doanh nghiệp; tổ chức các buổi tọa đàm, tập huấn; hướng dẫn tham gia cuộc thi “Phụ nữ khởi nghiệp sáng tạo và chuyển đổi xanh” do TW Hội LHPN Việt Nam tổ chức. Bên cạnh đó, thực hiện Cuộc vận động “Xây dựng gia đình 5 không, 3 sạch”, xây dựng nông thôn mới gắn với phong trào thi đua “Dân vận khéo”, Hội LHPN tỉnh chỉ đạo các cấp Hội tiến hành rà soát, khảo sát, phân loại các hộ chưa đạt tiêu chí “Gia đình 5 không, 3 sạch” để có kế hoạch, biện pháp giúp đỡ cụ thể từ đầu năm. Theo đó, các cấp Hội đăng ký với cấp ủy, chính quyền địa phương xây dựng và triển khai 209 hoạt động/công trình/mô hình/phần việc tham gia xây dựng nông thôn mới  và đô thị văn minh….

Ban Thường vụ Tỉnh đoàn đã tổ chức nhiều hoạt động như: Chương trình “Chung tay khởi nghiệp – Vững bước tương lai”;  phối hợp với Đài Phát thanh - Truyền hình mở chuyên trang chuyên mục “Mỗi thanh niên một sản phẩm”; xây dựng 02 mô hình làng quê đáng sống tại thôn bản thuộc huyện Tuyên Hóa, Minh Hóa; Cuộc thi khởi nghiệp sáng tạo; xây dựng sàn nông sản vũ trụ ảo Agriverse... 
Nhìn chung, các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị, xã hội từ tỉnh đến cơ sở đã vào cuộc quyết liệt, có chương trình, kế hoạch và triển khai thực hiện cụ thể với nhiều cách làm hay . Các hoạt động này không chỉ góp phần hoàn thành tiêu chí mà còn tạo chuyển biến nhận thức, trách nhiệm của người dân đối với cộng đồng.

1.1.10. Nội dung thành phần số 10: Giữ vững quốc phòng, an ninh và trật tự xã hội nông thôn
Công an các địa phương đã tham mưu cấp ủy, chính quyền các cấp chỉ đạo, điều hành, thực hiện đồng bộ nhiều biện pháp trong Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, trong đó tập trung chỉ đạo thực hiện ở các xã đăng ký đạt chuẩn nông thôn mới, nông thôn mới nâng cao, nông thôn mới kiểu mẫu. Đồng thời, tiếp tục tham mưu cấp ủy, chính quyền, người đứng đầu các cơ quan, doanh nghiệp, cơ sở giáo dục (cấp huyện, cấp xã) ban hành nhiều văn bản lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Thông tư số 124/2021/TT-BCA ngày 28/12/2021 của Bộ Công an quy định khu dân cư, xã, phường, thị trấn, cơ quan, doanh nghiệp, cơ sở giáo dục đạt tiêu chuẩn “An toàn về an ninh, trật tự”. 

Bộ Chỉ huy và các đơn vị trong BĐBP tỉnh chủ động triển khai đồng bộ các biện pháp công tác, nắm chắc tình hình, duy trì nghiêm túc công tác SSCĐ, tổ chức kiểm tra, kiểm soát, tuần tra bảo vệ biên giới, vùng biển bảo đảm chặt chẽ, đúng pháp luật. Tham gia, phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương triển khai thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo các cấp về tổ chức thực hiện Chỉ thị số 01/CT-TTg ngày 09/01/2015 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức “Phong trào toàn dân tham gia bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia trong tình hình mới”, các hoạt động “Ngày hội biên phòng toàn dân” góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm và phát huy tốt vai trò của nhân dân trong tham gia bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia.
Đến nay, có 120 xã (98,4%) đạt tiêu chí về Quốc phòng và An ninh.

1.1.11. Nội dung thành phần số 11: Tăng cường công tác giám sát, đánh giá thực hiện Chương trình; nâng cao năng lực xây dựng NTM; truyền thông về xây dựng NTM; thực hiện Phong trào thi đua cả nước chung sức xây dựng NTM.

Giám sát, đánh giá thực hiện Chương trình: Nội dung nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả thực hiện Chương trình được UBND tỉnh chỉ đạo thực hiện nghiêm túc và duy trì qua các năm nhằm đánh giá những mặt được, chưa được, nguyên nhân và rút ra bài học kinh nghiệm trong quá trình triển khai thực hiện. Thực hiện nghiêm túc các đợt giám sát của Đoàn Giám sát Quốc hội, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài cính, Ủy ban Thường vụ Tỉnh ủy…Bên cạnh đó, hoạt động giám sát, phản biện xã hội được Mặt trận các cấp thực hiện linh hoạt, đi vào chiều sâu và phát huy hiệu quả. Vai trò của Ban Thanh tra nhân dân, Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng trong hoạt động giám sát ở địa phương ngày càng có hiệu quả.

Phong trào thi đua cả nước chung sức xây dựng NTM; truyền thông về xây dựng Nông thôn mới đã được quan tâm thực hiện. UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 1017/KH-UBND của UBND tỉnh ngày 13/6/2022 về việc Tổ chức thực hiện phong trào thi đua “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới” tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2021-2025, Ban Chỉ đạo các Chương trình MTQG tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 191/KH-BCĐ ngày 27/09/2022 về truyền thông phục vụ Chương trình MTQG xây dựng NTM tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2021-2025. 

1.2. Kết quả thực hiện 06 chương trình chuyên đề 

1.2.1. Chương trình Mỗi xã một sản phẩm (OCOP)

Tổng kinh phí được phân bổ là 10.000 triệu đồng để triển khai các nội dung: Dự án nâng cao năng lực sơ chế, chế biến quy mô vừa và nhỏ cho các chủ thể OCOP; Dự án xây dựng điểm giới thiệu và bán sản phẩm OCOP; Phát triển du lịch sinh thái ở nông thôn gắn liền với nâng cao vai trò của cộng đồng ở vùng đệm Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng . Đến tháng 06/2025, tỷ lệ giải ngân đạt 71,9% (7.194 triệu đồng/10.000 triệu đồng).

1.2.2. Chương trình chuyển đổi số trong xây dựng Nông thôn mới, hướng tới Nông thôn mới thông minh

Sở Thông tin và Truyền thông đã được UBND tỉnh phê duyệt Dự án: Chuyển đổi số trong xây dựng nông thôn mới, hướng tới nông thôn mới thông minh giai đoạn 2021-2025 trên địa bàn tỉnh Quảng Bình (Quyết định số 727/QĐ-UBND ngày 28/3/2024), với tổng mức đầu tư: 4.500 triệu đồng, kinh phí đầu tư công NSTW giai đoạn 2023-2025. Hiện nay, Sở đã hoàn thành lắp đặt hệ thống Wifi công cộng tại 12 xã đăng ký xây dựng nông thôn mới nâng cao, kiểu mẫu giai đoạn 2021-2025; xây dựng 01 mô hình chuyển đổi số theo lĩnh vực nổi trội tại xã Bắc Trạch, huyện Bố Trạch. Ước giải ngân kế hoạch vốn đến tháng 06/2025 đạt 91,2% (4.105,9 triệu đồng/4.500 triệu đồng). Dự án đã hoàn thành đưa vào sử dụng, kinh phí còn lại nộp trả

ngân sách.
1.2.3. Chương trình khoa học và công nghệ phục vụ xây dựng Nông thôn mới 

Sở Khoa học và Công nghệ đã phối hợp với các đơn vị, địa phương tổ chức khảo sát, lựa chọn danh mục, địa điểm để triển khai thực hiện Dự án “Ứng dụng khoa học công nghệ trong đầu tư hệ thống dây chuyền chiết xuất, đóng chai nước mắm và bảo quản, chế biến thủy sản phục xây dựng nông thôn mới”, với tổng vốn là 5.500 triệu đồng. Hiện nay, Sở Khoa học và Công nghệ đã thực hiện khảo sát và triển khai các nội dung sau: Đầu tư xây dựng mới các hạng mục công trình: Cơ sở sản xuất chả cá xã Hải Phú; Cơ sở sản xuất nước mắm truyền thống Ngọc Biển, xã Thanh Trạch; Cơ sở bổ sung hồ sơ sau khi Sở Xây dựng thẩm định; Đầu tư trang thiết bị công trình gồm dây chuyền máy và thiết bị sản xuất tại Cơ sở sản xuất chả cá xã Hải Phú; Cơ sở sản xuất nước mắm truyền thống Ngọc Biển xã Thanh Trạch; Cơ sở kinh doanh và chế biến thủy sản xã Thanh Trạch và Cơ sở kinh doanh và chế biến thủy sản xã Cảnh Dương. Ước giải ngân kế hoạch vốn đến tháng 06/2025 đạt 49,5% (2.707,438 triệu đồng/5.500 triệu đồng). Dự kiến đến tháng 8/2025, tỷ lệ giải ngân đạt 100%

1.2.4. Chương trình tăng cường bảo vệ môi trường, an toàn thực phẩm và cấp nước sạch nông thôn
Nâng cấp, mở rộng công trình nước sạch nông thôn cho các xã đăng ký đạt chuẩn NTM, NTM nâng cao giai đoạn 2021 - 2025: Trung tâm nước sạch và VSMT Nông thôn thuộc Sở Nông nghiệp và Môi trường đang triển khai thực hiện dự án Nâng cấp, mở rộng công trình nước sạch nông thôn cho các xã đăng ký đạt chuẩn NTM, NTM nâng cao giai đoạn 2021-2025, thuộc Chương trình tăng cường bảo vệ môi trường, an toàn thực phẩm và cấp nước sạch nông thôn. Dự án được UBND tỉnh phê duyệt Báo cáo Kinh tế - Kỹ thuật tại Quyết định số 1406/QĐ-UBND ngày 27/5/2024 với tổng mức đầu tư 9.604 triệu đồng; thời gian thực hiện dự án từ năm 2024 - 2025 tại các xã Mai Hóa, Tiến Hóa, Châu Hóa, Văn Hóa thuộc huyện Tuyên Hóa và xã Thanh Trạch, huyện Bố Trạch. Khối lượng đã thực hiện đến 30/05/2025: Ước đạt 8.163/9.604 triệu đồng (85%TMĐT). Nguồn vốn bố trí năm 2025: 3.360 triệu đồng; Đã giải ngân: 1.119/3.360 triệu đồng, đạt 33,3%. Dự kiến đến 31/8/2025 sẽ hoàn thành dự án và giải ngân đạt 100% kế hoạch vốn bố trí

1.2.5. Chương trình nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện tiêu chí an ninh, trật tự trong xây dựng Nông thôn mới
Kinh phí được phân bổ là 8.000 triệu đồng để lắp đặt hệ thống camera giám sát an ninh tại địa bàn các xã. Hiện nay, Công an tỉnh đã ký hợp đồng với đơn vị trúng thầu là Tổng công ty Viễn thông Viettel. Tổng kinh phí đã dùng để triển khai thực hiện là 7.837,7 triệu đồng, trong đó Gói kinh phí chính để lắp camera giám sát tại 08 huyện là 7.371,1 triệu đồng, kinh phí tư vấn là 393,6 triệu đồng, kinh phí dự phòng là 73,0 triệu. Đã lắp đặt xong 313 camera tại 22 xã trên địa bàn toàn tỉnh. Công an tỉnh đã phối hợp với các đơn vị liên quan thẩm định xong tại 08 huyện, thị xã, thành phố.

1.2.6. Chương trình phát triển du lịch nông thôn trong xây dựng NTM

Trong giai đoạn 2023-2025, Sở Du lịch (nay là Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch) đã phối hợp các sở, ngành, địa phương triển khai đồng bộ các nhóm giải pháp để hoàn thành các mục tiêu đến năm 2025 tại Kế hoạch số 667/KH-UBND ngày 13/4/2023 của UBND tỉnh. Đến hết tháng 5/2025, đã triển khai được tất cả các công việc của Kế hoạch, cụ thể: Làng Du lịch Tân Hóa đã được Tổ chức Du lịch Thế giới công nhận là làng Du lịch tốt nhất tại kỳ bầu chọn năm 2023; Công tác xây dựng cơ sở dữ liệu về các sản phẩm, điểm du lịch nông thôn và cập nhật bản đồ số du lịch Quảng Bình đã cơ bản hoàn thành, công tác truyền thông quảng bá về du lịch nông thôn được đẩy mạnh với phương thức đa dạng, nội dung phong phú. Về nguồn vốn đầu tư: Hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật, phát triển mô hình làng văn hóa du lịch tại xã Cảnh Dương và Mai Thủy (tổng vốn: 5.000 triệu đồng); Phát triển mô hình du lịch thích ứng thời tiết, hình thành Làng du lịch nông thôn tại xã Tân Hóa, huyện Minh Hóa (tổng vốn: 3.000 triệu đồng). Các dự án đã cơ bản hoàn thành việc thi công, xây lắp các công trình, đang tiến hành nghiệm thu và làm thủ tục thanh toán. Dự kiến giải ngân 100% trong tháng 6/2025 và nghiệm thu, quyết toán trong tháng 7/2025.

1.2.7. Kết quả triển khai các mô hình điểm thuộc Chương trình chuyên đề: Tỉnh Quảng Bình có hai mô hình thuộc danh mục mô hình thí điểm được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt. Đó là: mô hình “Cải tạo cảnh quan môi trường gắn với phát triển du lịch bên dòng sông Gianh tại xã Quảng Tân, thị xã Ba Đồn” tại Quyết định số 4165/QĐ-BNN-VPĐP ngày 10/10/2023 về việc Phê duyệt danh mục các mô hình thí điểm thuộc Chương trình tăng cường bảo vệ môi trường, an toàn thực phẩm và cấp nước sạch nông thôn trong xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021-2025 (Đợt 2) và mô hình “Phát triển du lịch sinh thái ở nông thôn gắn liền với nâng cao vai trò của cộng đồng ở vùng đệm vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng tại huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình” tại Quyết định số 1528/QĐ-BNN-VPĐP ngày 14/4/2023 phê duyệt danh mục các mô hình thí điểm thuộc Chương trình mỗi xã một sản phẩm giai đoạn 2021 – 2025 (Đợt 2). Đến nay, cả 02 mô hình đã hoàn thành, tỷ lệ giải ngân đạt 100%. 

2. Kết quả thực hiện các mục tiêu xây dựng nông thôn mới

a) Số đơn vị cấp huyện được công nhận hoàn thành nhiệm vụ/đạt chuẩn NTM: Có 02 đơn vị cấp huyện (TP. Đồng Hới và TX. Ba Đồn) được công nhận hoàn thành nhiệm vụ xây dựng NTM.

b) Số xã được Chủ tịch UBND cấp tỉnh công nhận đạt chuẩn NTM
Đến nay, toàn tỉnh có 97 xã được công nhận đạt chuẩn Nông thôn mới, đạt tỷ lệ 79,5%, tăng 13,1% so với năm 2021 và đạt 95,1% mục tiêu giai đoạn 2021 – 2025 được giao; 17 xã được công nhận đạt NTM nâng cao, đạt tỷ lệ 17,5% (tăng 17 xã so với năm 2021 và vượt 6,3% mục tiêu giai đoạn 2021 – 2025 được giao); 06 xã được công nhận đạt NTM kiểu mẫu, đạt tỷ lệ 6,2% (tăng 06 xã so với năm 2021 và vượt 20% mục tiêu giai đoạn 2021 – 2025 được giao). 
Bình quân đạt 17,9 tiêu chí/xã (tăng 0,7 tiêu chí so với cuối năm 2021, cao hơn bình quân vùng Bắc Trung Bộ 0,2 tiêu chí/xã và cao hơn bình quân toàn quốc 0,3 tiêu chí/xã).

c) Số xã đạt theo từng nhóm tiêu chí NTM:
- Số xã đã có Quyết định công nhận: 97 xã
- Số xã đạt 19 tiêu chí nhưng chưa được công nhận đạt chuẩn NTM: 01 xã (thuộc xã bãi ngang ven biển).
- Số xã đạt từ 15 - 18 tiêu chí: 10 xã.
- Số xã đạt từ 10 - 14 tiêu chí: 9 xã.
- Số xã đạt dưới 10 tiêu chí: 5 xã.

d) Kết quả đạt chuẩn NTM cấp thôn, bản: Đến nay, toàn tỉnh có 06 thôn, bản thuộc xã ĐBKK được công nhận đạt chuẩn NTM.

III. ĐÁNH GIÁ CHUNG 

1. Kết quả đạt được
Triển khai xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021 – 2025, trong bối cảnh thiên tai, dịch bệnh diễn biến phức tạp nhưng được sự quan tâm giúp đỡ của Chính phủ, các Bộ ngành Trung ương, sự chỉ đạo sát đúng của Tỉnh ủy, HĐND và sự nỗ lực rất lớn của các cấp, các ngành, đặc biệt là sự chung tay góp sức của người dân, chương trình đã đạt được một số kết quả quan trọng, tiếp tục khẳng định vai trò là động lực then chốt thúc đẩy phát triển toàn diện khu vực nông thôn, góp phần chuyển biến rõ nét diện mạo nông thôn và cải thiện đáng kể đời sống vật chất, tinh thần của người dân, cụ thể:

Toàn tỉnh có 97/122 xã đạt NTM, chiếm 79,5% tổng số xã; 17 xã đạt chuẩn NTM nâng cao, chiếm 17,5% số xã NTM; 06 xã đạt chuẩn NTM mẫu, chiếm 6,2% số xã NTM (các chỉ tiêu cơ bản đạt và vượt so với mục tiêu giai đoạn 2021 - 2025 Trung ương giao); 02 đơn vị cấp huyện (TP. Đồng Hới, TX. Ba Đồn) hoàn thành nhiệm vụ xây dựng NTM

Bộ mặt nông thôn ở nhiều địa phương thay đổi nhanh chóng, rõ rệt. Đời sống vật chất và tinh thần của người dân được cải thiện (thu nhập của cư dân nông thôn năm 2024 đạt 46,6 triệu đồng/người/năm, gấp 1,2 lần so với năm 2021 và gấp 4,6 lần so với trước khi triển khai chương trình; tỷ lệ hộ nghèo khu vực nông thôn giảm nhanh, đến cuối năm 2024 chỉ còn 3,75%, giảm 0,87% so với năm 2020), điều kiện về y tế, giáo dục, văn hóa được cải thiện; cảnh quan môi trường nông thôn có nhiều chuyển biến rõ nét. Dân chủ cơ sở được nâng cao từ đó phát huy nhiều cách làm hay, sáng tạo góp phần huy động nhiều nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới. Đây là những tiền đề quan trọng cho sự phát triển bền vững của Quảng Bình.

Chất lượng đời sống văn hóa tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao, trong đó nổi bật nhất là việc bảo tồn, giữ gìn những nét đẹp văn hóa truyền thống, hàng loạt lễ hội truyền thống tốt đẹp được tổ chức bài bản ở khắp các vùng quê (hò khoan Lệ Thủy, lễ hội đua thuyền truyền thống trên sông Nhật Lệ, Kiến Giang; lễ hội cầu ngư của cư dân vùng biển Đồng Hới; Hội làng Bảo Ninh; Lễ cúng xuống mùa làng Lệ Sơn…), bảo tồn và phát huy tốt các giá trị cảnh quan ở nông thôn; ngày càng thu hút doanh nghiệp, tư nhân tham gia công tác xã hội hóa cơ sở hạ tầng văn hóa, thể thao. Hệ thống cơ sở hạ tầng, các thiết chế văn hóa, thể thao ở thôn, xã ngày càng được hoàn thiện; phong trào văn nghệ, thể thao được duy trì đều đặn, rộng khắp đã góp phần nâng cao đời sống tinh thần và thể chất cho người dân.

Nông nghiệp giữ được mức tăng trưởng, phát triển tương đối toàn diện. đã góp phần cho sự tăng trưởng chung của tỉnh và tạo nên sự ổn định cho sự phát triển của Quảng Bình. Năng suất chất lượng nhiều loại cây trồng, vật nuôi được nâng lên; xây dựng và nhân rộng nhiều mô hình sản xuất hiệu quả; việc liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm giữa nông dân với các doanh nghiệp có tiến triển tốt, tạo thuận lợi cho tiêu thụ nông sản và ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp. Cơ cấu kinh tế được chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng ngành nông, lâm, thủy sản, tăng nhanh tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng và thương mại - dịch vụ. 
Phong trào khu dân cư kiểu mẫu, vườn mẫu ở nhiều địa phương đã thúc đẩy nông thôn mới đi vào thực chất (toàn tỉnh có 114 khu dân cư nông thôn mới kiểu mẫu, 143 vườn mẫu. Chương trình OCOP cũng đã bước đầu đạt được những kết quả nhất định, góp phần thúc đẩy phát triển những sản phẩm đặc sản của địa phương. Các loại hình tổ chức sản xuất được đổi mới phù hợp, hiệu quả hơn; kinh tế hộ tiếp tục được hỗ trợ và tổ chức theo hướng quy mô lớn hơn, dần thích nghi với cơ chế thị trường. Hoạt động của các HTX ngày càng hiệu quả với doanh thu và thu nhập của các thành viên HTX ngày càng cao, từng bước khẳng định vai trò của HTX trong hỗ trợ phát triển kinh tế hộ và xây dựng nông thôn mới. Các mô hình về phát triển du lịch cộng đồng đã và đang từng bước phát triển mạnh tại các địa phương, góp phần hỗ trợ người dân nâng cao thu nhập.

Công tác bảo vệ môi trường nông thôn đã được quan tâm, từng bước làm thay đổi nhận thức, ý thức, trách nhiệm của người dân. Một số các thôn, bản đã có hương ước về giữ gìn vệ sinh chung. Hầu hết các xã đều có quy hoạch nghĩa trang cho các thôn, xóm đảm bảo nằm cách xa khu dân cư và có tổ thu gom rác thải sinh hoạt. Phần lớn các doanh nghiệp đã thực hiện các hồ sơ thủ tục về bảo vệ môi trường theo quy định, thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường nhằm góp phần tích cực trong việc giảm thiểu ô nhiễm. Phong trào trồng cây xanh, trồng hoa, vẽ bích họa trên các tuyến đường đang phát triển mạnh mẽ ở các địa phương.

Công tác đảm bảo an ninh trật tự được quan tâm triển khai, người dân ngày càng nâng cao ý thức chấp hành pháp luật, tích cực tham gia tố giác tội phạm; giúp đỡ lực lượng công an nhân dân trong công tác phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh phòng chống các loại tội phạm. Xây dựng và nhân rộng nhiều mô hình tổ chức quần chúng làm công tác ANTT, trong đó nhiều mô hình đã phát huy hiệu quả, góp phần làm giảm tội phạm ở cơ sở.
Các cấp ủy, chính quyền và cả hệ thống chính trị đã tích cực, chủ động, sáng tạo trong triển khai thực hiện. Bộ máy chỉ đạo được hình thành khá đồng bộ, thống nhất từ tỉnh đến cơ sở; nhiều cơ chế chính sách được ban hành có tác dụng thiết thực và trở thành động lực thúc đẩy tiến độ triển khai chương trình.

Phong trào thi đua “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới tỉnh Quảng Bình” đã thực sự trở thành một phong trào ý nghĩa, mang tính nhân văn và có sức lan tỏa sâu rộng, được người dân đồng tình hưởng ứng. Nhận thức của người dân về xây dựng nông thôn mới ngày càng được nâng cao, nhất là trong phát triển sản xuất gắn với liên kết tiêu thụ sản phẩm, ứng dụng khoa học công nghệ, trong bảo vệ môi trường, cải tạo cảnh quan nông thôn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, giữ gìn an ninh trật tự, góp phần làm thay đổi cơ bản bộ mặt nông thôn của các địa phương trên địa bàn tỉnh Quảng Bình.

Đội ngũ cán bộ từ tỉnh đến cơ sở đã nỗ lực tập trung triển khai chương trình. Một số địa phương cán bộ cùng người dân kiên trì, bền bỉ, tổ chức họp, tuyên truyền, phổ biến, vận động để người dân được bàn thảo một cách kỹ lưỡng và thống nhất cách làm. Những khâu quan trọng và khó nhất trong xây dựng NTM đều được nhân dân đồng thuận cao, đồng thời thể hiện tính công khai, minh bạch và phát huy tính chủ thể của người dân trong triển khai thực hiện chương trình. 

Công tác kiểm tra giám sát được coi trọng đã kịp thời chấn chỉnh những vi phạm, sai lệch trong quá trình thực hiện Chương trình. Công tác thi đua khen thưởng được thực hiện kịp thời đã góp phần cổ vũ, động viên khích lệ phong trào xây dựng nông thôn mới trong toàn tỉnh. 

2. Tồn tại, hạn chế

- Khoảng cách chênh lệch về kết quả xây dựng nông thôn mới giữa các địa phương còn khá lớn, trong khi nhiều xã đã chuyển sang giai đoạn nâng cao chất lượng, xây dựng xã nông thôn mới nâng cao và kiểu mẫu thì một số xã có số tiêu chí đạt rất thấp.

- Công tác duy trì và nâng cao chất lượng tiêu chí của các xã đã đạt chuẩn còn hạn chế, vẫn còn một số xã đã đạt chuẩn giai đoạn 2010 – 2020 chưa đáp ứng yêu cầu Bộ tiêu chí giai đoạn 2021 – 2025.

- Cán bộ phụ trách Nông thôn mới cấp huyện, xã thực hiện đồng thời nhiều nhiệm vụ của đơn vị, lại có sự luân chuyển công tác nên ảnh hưởng đến công tác tham mưu, chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện chương trình.

- Hầu hết các xã trên địa bàn tỉnh phấn đấu về đích giai đoạn 2021 – 2025 đều là những xã khó khăn, có điều kiện tự nhiên không thuận lợi, khó thu hút đầu tư phát triển sản xuất dẫn đến thu nhập bình quân đầu người, đời sống của người dân không cao, khó huy động được nguồn lực xã hội hóa.

- Chế độ báo cáo ở một số xã và một số phòng ban được phân công thực hiện các tiêu chí xây dựng NTM chưa nghiêm túc, còn thụ động, đối phó, ảnh hưởng đến công tác chỉ đạo điều hành của huyện và của tỉnh.

- Nguồn kinh phí thực hiện Chương trình còn rất hạn chế so với yêu cầu, nhiệm vụ, đặc biệt là nguồn kinh phí duy tu, bảo dưỡng nên nhiều công trình xuống cấp, ảnh hưởng đến việc giữ vững và nâng cao chất lượng tiêu chí.

3. Nguyên nhân của các tồn tại, hạn chế
- Chương trình xây dựng NTM có nhiều nội dung toàn diện, tổng hợp và thực hiện trong thời gian dài nhưng lực lượng cán bộ ở cơ sở còn hạn chế chưa đáp ứng được yêu cầu. Cán bộ thực hiện Chương trình đều kiêm nhiệm, lại có sự luân chuyển công tác nên khó khăn trong quá trình thực hiện. 

- Nguồn kinh phí thực hiện Chương trình còn rất hạn chế so với mục tiêu, nhiệm vụ. Nguồn lực huy động tại chỗ ở một số xã gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là nguồn vốn từ quỹ đất và đóng góp của nhân dân.

- Các xã có điều kiện kinh tế xã hội không đều nhau, các xã miền biển, bãi ngang, miền núi còn nhiều khó khăn nên càng về sau Chương trình càng khó khăn hơn, nguồn lực đầu tư càng lớn hơn nhưng nguồn thu ngân sách xã ở các xã thấp nên ảnh hưởng đến lộ trình chung của huyện.
- Thực hiện Chương trình MTQG xây dựng NTM với khối lượng công việc nhiều, đa ngành, đa lĩnh vực với hệ thống các tiêu chí đạt chuẩn cao và bền vững trong khi thời gian, lộ trình thực hiện sớm hoàn thành; mặt khác hệ thống các cơ chế chính sách, nội dung các tiêu chí chưa hoàn chỉnh, vừa triển khai chương trình vừa ban hành văn bản bổ sung, điều chỉnh làm khó khăn trong công tác chỉ đạo thực hiện.
- Việc sắp xếp, sáp nhập đơn vị hành chính cấp xã theo quy định của Trung ương dẫn đến nhiều xã đã đạt chuẩn trước đây không còn được công nhận, làm giảm tỷ lệ xã đạt chuẩn của toàn tỉnh. Một số xã sau sáp nhập chuyển thành phường/thị trấn, ảnh hưởng đến tổng thể kết quả Chương trình.

IV. BÀI HỌC KINH NGHIỆM

1. Về quán triệt, tuyên truyền nâng cao nhận thức về xây dựng nông thôn mới
Phải làm tốt công tác tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức trong cộng đồng dân cư về nội dung, phương pháp, cách làm, cơ chế chính sách của Nhà nước về xây dựng nông thôn mới để cả hệ thống chính trị và người dân hiểu rõ mục tiêu cốt lõi của từng giai đoạn. Xây dựng nông thôn mới phải do cộng đồng dân cư làm chủ; huy động nội lực là chính với sự hỗ trợ một phần của nhà nước thì công cuộc xây dựng nông thôn mới mới thành công và bền vững.

2. Về ban hành các văn bản triển khai thực hiện Chương trình (tính kịp thời, sáng tạo, đúng, trúng, sát thực tiễn...)

- Văn bản ban hành phải kịp thời nhằm đảm bảo thời gian, tiến độ triển khai của các địa phương. Nội dung ban hành sát thực tiễn để tăng tính khả thi trong quá trình thực hiện.

- Trong quá trình ban hành các chỉ tiêu, nội dung cần lấy ý kiến của các địa phương để phù hợp với phong tục tập quán và tình hình thực tế.

3. Về lãnh đạo chỉ đạo, tổ chức, điều hành thực hiện, phối hợp thực hiện Chương trình 

- Chủ động, sáng tạo, phù hợp với điều kiện và đặc điểm của địa phương tránh rập khuôn, máy móc; mỗi địa phương phải căn cứ vào đặc điểm, lợi thế và nhu cầu thiết thực của người dân để lựa chọn nội dung trọng tâm, trọng điểm làm trước với mức độ phù hợp, đồng thời tuân thủ các hướng dẫn của cấp trên.

- Tiếp cận Chương trình XDNTM phải kết hợp XDNTM cả quy mô xã và thôn (bản); phát huy vai trò của người đứng đầu từ thôn, bản xã đến huyện. Phân công giao nhiệm vụ thực hiện cho các thành viên trong Ban Chỉ đạo các cấp rõ ràng cụ thể, gắn trách nhiệm của ngành với địa bàn phân công tại cơ sở.

- Huy động sự tham gia, vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị, đặc biệt là các đoàn thể, các tổ chức chính trị, xã hội.

- Lồng ghép, sử dụng hiệu quả các nguồn vốn của các chương trình MTQG khác, như nguồn vốn huy động từ các doanh nghiệp, vốn tín dụng, vốn lồng ghép từ các dự án để phục vụ thực hiện các Chương trình XDNTM.

- Chú trọng xây dựng và đào tạo đội ngũ cán bộ nòng cốt ở các cấp, nhất là đội ngũ cán bộ cơ sở, để triển khai các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đầy đủ đến với người dân, từ đó giúp cho người dân tự nguyện tham gia. Đồng thời cần có cơ chế chính sách sát, đúng, kịp thời tạo ra sự kích thích mạnh mẽ để các địa phương nỗ lực phấn đấu. Phát huy cao nguồn lực tại chỗ, lồng ghép các chương trình dự án; lựa chọn thực hiện các nhiệm vụ ưu tiên tạo ra sự chuyển biến thực tế trên diện rộng. 

4. Về kiểm tra, giám sát, thanh tra, xử lý vi phạm: Tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát, đánh giá việc thực hiện Chương trình ở các cấp, các ngành. Kịp thời khen thưởng những tổ chức, cá nhân làm tốt, đồng thời có biện pháp phòng ngừa, kịp thời ngăn chặn các biểu hiện tiêu cực, lãng phí, xử lý nghiêm các vi phạm trong quá trình thực hiện Chương trình.
5. Ứng dụng công nghệ và thúc đẩy chuyển đổi số là xu thế tất yếu trong phát triển NTM hiện đại: Chuyển đổi số không chỉ giúp chính quyền cơ sở nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý mà còn mở ra không gian phát triển mới cho kinh tế nông thôn thông qua thương mại điện tử, nông nghiệp thông minh, truy xuất nguồn gốc sản phẩm... Đào tạo, nâng cao năng lực chuyển đổi số cho cán bộ cấp xã, thôn và hỗ trợ người dân tiếp cận công nghệ cần được đặt thành nhiệm vụ thường xuyên trong giai đoạn tới.
Phần thứ hai

ĐỀ XUẤT MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP TRỌNG TÂM THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH GIAI ĐOẠN 2026 - 2030

I. ĐỀ XUẤT MỤC TIÊU PHẤN ĐẤU GIAI ĐOẠN 2026 - 2030

1. Mục tiêu chung: Triển khai xây dựng NTM hiện đại, toàn diện và bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu; phát triển đồng bộ kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội đáp ứng yêu cầu hội nhập và phát triển xanh, tuần hoàn. Thúc đẩy kinh tế nông thôn theo hướng ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo; nâng cao thu nhập, chất lượng sống và khả năng tiếp cận dịch vụ thiết yếu của người dân nông thôn, từng bước tiệm cận mức sống đô thị. Xây dựng nông thôn xanh, sạch, đẹp, an toàn, đậm bản sắc văn hóa; bảo đảm an sinh xã hội, giảm nghèo đa chiều và bao trùm; giữ vững quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội; hình thành cộng đồng nông thôn văn minh, nhân văn, gắn kết và hạnh phúc.
2. Mục tiêu cụ thể: 

Phấn đấu đến năm 2030, toàn tỉnh có 80% số xã đạt chuẩn nông thôn mới.
Căn cứ đề xuất mục tiêu: Sau khi rà soát hiện trạng nông thôn mới của các xã sau sáp nhập, số lượng xã được hình thành từ các xã đã đạt chuẩn nông thôn mới và thị trấn của tỉnh Quảng Bình là 18/36 xã. Nếu xem xét thừa nhận 18 xã này đạt chuẩn nông thôn mới sau sáp nhập thì tỷ lệ đạt chuẩn của tỉnh Quảng Bình chỉ đạt 50% (trước sáp nhập là 97/122 xã, tương ứng 79,5%). Mặt khác, trong giai đoạn tới các xã chưa đạt chuẩn chủ yếu là các xã đặc biệt khó khăn, các xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, trong khi Trung ương đang sửa đổi bộ tiêu chí theo hướng nâng cao hơn về chất lượng. Do vậy, nếu đặt mục tiêu theo Nghị quyết số 19-NQ/TW của BCH Trung ương Đảng (mục tiêu toàn quốc về tỷ lệ xã đạt chuẩn nông thôn mới là 90% số xã) thì chỉ tiêu này đối với tỉnh Quảng Bình khó có khả năng thực hiện hiện được. Do vậy, tỉnh Quảng Bình đề xuất tỷ lệ xã đạt chuẩn nông thôn mới đến năm 2030 đạt ở mức 80% (tương ứng với 29/36 xã toàn tỉnh) là phù hợp.

II. ĐỀ XUẤT MỘT SỐ NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP CHỦ YẾU ĐỂ THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH GIAI ĐOẠN 2026 - 2030

1. Về công tác tuyên truyền, hướng dẫn

- Đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền, nâng cao nhận thức để cán bộ, đảng viên và người dân hiểu đầy đủ bản chất nhân văn của xây dựng NTM, về các dự án, chính sách và các nội dung thành phần; quán triệt tư tưởng “Xây dựng NTM có điểm khởi đầu nhưng không có điểm kết thúc.

- Nâng cao vai trò, trách nhiệm cấp ủy, chính quyền các cấp, nhất là vai trò người đứng đầu trong xây dựng NTM, GNBV; tiếp tục phát huy vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và giám sát của cộng đồng dân cư đối với xây dựng NTM, GNBV.

2. Về công tác xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách, các văn bản chỉ đạo, điều hành, tổ chức thực hiện chương trình

- Kịp thời cụ thể hóa khung cơ chế, chính sách của Trung ương; nghiên cứu ban hành chính sách riêng của địa phương để thực hiện Chương trình giai đoạn 2026-2030 góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư, bảo đảm không chồng chéo, trùng lặp, lãng phí nguồn lực. 

- Hoàn thiện các bộ tiêu chí (các tiêu chí Trung ương giao tỉnh tự quy định cho phù hợp với tình hình thực tế) phù hợp với từng vùng, miền trong tỉnh. Tiếp tục chuyển trọng tâm từ phát triển số lượng sang nâng cao chất lượng, đặt biệt chú trọng duy trì và nâng cao các tiêu chí sau đạt chuẩn NTM. Hướng dẫn, hỗ trợ các địa phương triển khai xây dựng NTM nâng cao, NTM kiểu mẫu theo hướng hiện đại, phù hợp với điều kiện và đặc thù vùng miền. Đồng thời, thực hiện đồng bộ các giải pháp GNBV theo hướng tiếp cận đa chiều, liên ngành, tập trung phát triển sinh kế, nâng cao năng lực tự chủ, tự vươn lên của người nghèo, không để tái nghèo diễn ra trên diện rộng.

- Tăng cường phân cấp, trao quyền cho cấp xã, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho người dân và cộng đồng thực sự làm chủ trong xây dựng nông thôn mới đảm bảo tính công khai, minh bạch và trách nhiệm trong suốt quá trình thực hiện Chương trình.

3. Về công tác lập kế hoạch, phân bổ, giải ngân và huy động nguồn lực thực hiện

- Thực hiện đồng bộ các giải pháp về huy động vốn, bảo đảm huy động đầy đủ, kịp thời theo quy định. Ưu tiên bố trí vốn đầu tư phát triển cho các địa bàn khó khăn nhằm thu hẹp khoảng cách giữa các vùng, miền. Lồng ghép có hiệu quả các nguồn vốn từ các chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình, dự án hỗ trợ có mục tiêu và các dự án đầu tư khác đang triển khai trên địa bàn nông thôn, bảo đảm tập trung, tránh dàn trải, trùng lặp; phát huy vai trò điều phối tổng thể của cấp tỉnh trong tổ chức thực hiện.

- Đầu tư có trọng tâm trọng điểm, chú trọng đẩy mạnh các hình thức xã hội hóa đầu tư, huy động tối đa các nguồn vốn của các tổ chức, doanh nghiệp và nhân dân trong và ngoài tỉnh cho NTM; phát huy tốt công tác đỡ đầu; tranh thủ các nguồn tài trợ từ các tổ chức chính phủ, phi chính phủ để tăng nguồn lực cho xây dựng NTM. 

-  Bố trí hợp lý nguồn lực từ nguồn ngân sách địa phương để hỗ trợ cho các xã,  đạt chuẩn NTM, NTM nâng cao, NTM hiện đại, phát triển sản phẩm OCOP; hỗ trợ phát triển sản xuất theo hướng liên kết, ứng dụng công nghệ cao, hữu cơ,... nhằm xây dựng nông thôn mới đi vào chiều sâu và hiệu quả. Huy động hiệu quả các nguồn vật liệu sẵn có trên địa bàn để giảm thiểu kinh phí, phát huy nguồn lực đầu tư.

- Tăng cường quản lý, sử dụng hiệu quả các nguồn lực đầu tư cho xây dựng nông thôn mới, đảm bảo đúng quy định, có trọng tâm, trọng điểm, tránh dàn trải, lãng phí; ưu tiên đầu tư cho các địa phương đăng ký hoàn thành xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2026 – 2030, các địa bàn khó khăn. Chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ giải ngân nguồn vốn NTM, kịp thời điều chuyển đối với các đơn vị có tỷ lệ giải ngân thấp, đồng thời giảm trừ vào nguồn vốn được bố trí năm sau.

4. Về công tác kiểm tra, giám sát thực hiện Chương trình.

Tiếp tục phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên về việc thực hiện các chủ trương, cơ chế, chính sách, việc sử dụng, huy động các nguồn lực. Có biện pháp phòng ngừa, kịp thời ngăn chặn các biểu hiện tiêu cực, lãng phí, xử lý nghiêm các vi phạm trong quá trình thực hiện Chương trình. Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát định kỳ và đột xuất việc thực hiện Chương trình MTQG xây dựng NTM đảm bảo hiệu quả. Thực hiện nghiêm túc việc thẩm tra, thẩm định, xét, công nhận đạt chuẩn NTM, bảo đảm thực chất, khách quan. Thực hiện nghiêm túc việc thu hồi bằng công nhận xã đạt chuẩn đối với các xã không duy trì chất lượng các tiêu chí. Kịp thời phát hiện và chấn chỉnh các sai phạm, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc cho các địa phương. 

5. Giải pháp khác 

- Củng cố bộ máy thực hiện Chương trình giai đoạn tới theo hướng tinh gọn, chuyên trách, phù hợp với chủ trương tổ chức chính quyền  địa phương theo mô hình 02 cấp (tỉnh – xã), không còn cấp huyện, trong đó, xác định rõ vai trò điều phối tổng thể ở cấp tỉnh và tăng cường năng lực tổ chức thực hiện ở cấp xã. 

- Nâng cao vai trò, trách nhiệm của các thành viên Ban Chỉ đạo tỉnh trong việc theo dõi, hướng dẫn, hỗ trợ các địa phương xây dựng NTM. Thực hiện có hiệu quả công tác đỡ đầu, phụ trách các địa phương xây dựng NTM, trong đó, chú trọng việc tháo gỡ những nút thắt, điểm nghẽn về cơ chế, chính sách để tạo động lực, kích thích các đơn vị, tổ chức, cá nhân thi đua thực hiện Chương trình.

IV. ĐỀ XUẤT KIẾN NGHỊ

1. Về khung pháp lý thực hiện Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2026 - 2030: Đề xuất Thủ tướng Chính phủ sớm triển khai các văn bản chỉ đạo thực hiện và ban hành các Bộ tiêu chí theo hướng kế thừa và có bổ sung phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội của các khu vực để các địa phương có cơ sở chỉ đạo các địa phương rà soát, đăng ký vào mục tiêu Đại hội Đảng bộ các cấp.

2. Về nguồn vốn: Bổ sung nội dung hỗ trợ từ nguồn vốn đầu tư ngân sách Trung ương cho các xã phấn đấu đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao, xã nông thôn mới hiện đại; nguồn vốn sự nghiệp ngân sách trung ương bố trí cho công tác duy tu, bảo dưỡng các công trình đối với các xã đã đạt chuẩn nông thôn mới. 

Trên đây là báo cáo đánh giá kết quả thực hiện Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021 - 2025 và đề xuất thực hiện giai đoạn 2026 - 2030. UBND tỉnh Quảng Bình kính gửi Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổng hợp./.
 

Báo cáo số 173/BC-UBND ngày 17/6/2025

Các tin khác

Thông báo mới

VB mới

Chủ tịch HCM và đại tướng Võ Nguyên Giáp

Thông tin tuyên truyền (PBPL ... DVC)

Footer Quảng Bình

Lượt truy cập