Chi tiết bài viết

Báo cáo tổng kết Phong trào thi đua “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới”, giai đoạn 2021 - 2025

9:7, Thứ Ba, 17-6-2025

(Quang Binh Portal) - Ngày 06/6/2025, UBND tỉnh ban hành Báo cáo số 165/BC-UBND tỉnh về việc tổng kết Phong trào thi đua “Cả nước chung sức  xây dựng nông thôn mới”, giai đoạn 2021 - 2025.

 

Thực hiện Công văn số 3003/BTĐKT ngày 29/5/2025 của Bộ Nội vụ về việc báo cáo và đề nghị khen thưởng tổng kết Phong trào thi đua “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới” giai đoạn 2021 - 2025 (viết tắt là Phong trào thi đua); Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Bình báo cáo kết quả thực hiện Phong trào thi đua như sau:

I. KHÁI QUÁT ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH

1. Đặc điểm, tình hình

Tỉnh Quảng Bình có diện tích 7.998,76 km2; có 08 huyện, thị xã, thành phố và 145 xã, phường, thị trấn; thành phố Đồng Hới là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của tỉnh. 

Trong 05 năm qua, tỉnh Quảng Bình đã quyết liệt, tập trung các nguồn lực xã hội, chỉ đạo tổ chức phong trào thi đua "Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới" theo Quyết định số 587/QĐ-TTg, ngày 18/5/2022 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Kế hoạch tổ chức thực hiện Phong trào thi đua "Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới" giai đoạn 2021-2025; với sự nỗ lực, quyết tâm cao của Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân, được sự quan tâm giúp đỡ của Trung ương, phong trào thi đua được triển khai sâu rộng và đạt nhiều kết quả khá tích cực. Thông qua phong trào thi đua, các cơ quan, đơn vị, địa phương đã thực hiện hiệu quả các mục tiêu, nhiệm vụ chính trị đã đặt ra. Bên cạnh đó, phát hiện nhiều tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc, nổi bật, nêu gương ở các cơ quan, đơn vị, địa phương, doanh nghiệp. Những gương điển hình tiên tiến này được tuyên truyền trên các phương tiện truyền thông của tỉnh cũng như của đơn vị để các tập thể, cá nhân học tập, noi theo. 

2. Thuận lợi

- Sự lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời của cấp ủy, chính quyền, sự vào cuộc của các cấp, các ngành, các địa phương, trong quá trình triển khai, thực hiện Phong trào đua “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới” giai đoạn 2021 - 2025.

- Phong trào thi đua đã nhận được sự hưởng ứng, vào cuộc của các cấp, các ngành, các địa phương, và sự hưởng ứng, đồng lòng, đồng sức của Nhân dân.

- Đã đúc rút được nhiều kinh nghiệm, bài học trong quá trình thực hiện phong trào thi đua qua các giai đoạn. Qua đó khẳng định phát động các phong trào thi đua là đúng đắn, đúng quan điểm, đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước, phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa phương.

3. Khó khăn

- Cơ sở hạ tầng, nguồn lực của tỉnh Quảng Bình còn khó khăn và thiếu đồng bộ, thu nhập, đời sống của người dân chưa cao. 

- Vai trò trách nhiệm của các ngành trong công tác phối hợp tổ chức thực hiện có lúc, có khi chưa đồng bộ; đặc biệt năng lực của đội ngũ cán bộ cơ sở thực hiện các phong trào thi đua còn hạn chế, thiếu kinh nghiệm, chưa đáp ứng được yêu cầu đề ra.

- Trình độ phát triển của địa phương có sự chênh lệch khá lớn (giữa các huyện và giữa các xã); tốc độ đô thị hóa nhanh dẫn đến diện tích đất nông nghiệp giảm; biến đổi khí hậu ảnh hưởng tiêu cực đến nông nghiệp, nông thôn.

II. KẾT QUẢ TRIỂN KHAI THỰC HIỆN PHONG TRÀO THI ĐUA

1. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể trong triển khai Phong trào thi đua

Thực hiện Quyết định số 587/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân tỉnh, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Bình đã ban hành các Nghị quyết, quyết định và văn bản cụ thể hóa và chỉ đạo triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021 - 2025 trên địa bàn tỉnh. Việc hoàn thiện cơ chế, chính sách để triển khai Chương trình cơ bản đầy đủ, tạo điều kiện thuận lợi trong tổ chức, thực hiện các dự án, tiểu dự án theo quy định. 

Bên cạnh đó, các cấp ủy đảng, chính quyền của các sở, ban, ngành, địa phương căn cứ tình hình thực tế của đơn vị đã ban hành các văn bản cụ thể hóa và hướng dẫn triển khai thực hiện đồng bộ.  

a) Việc ban hành các Chỉ thị, Nghị quyết và các văn bản chỉ đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền các cấp
 (Chi tiết hệ thống văn bản có Phụ lục 1 đính kèm)

b) Công tác ban hành kế hoạch tổ chức Phong trào thi đua, Hướng dẫn khen thưởng

- Kế hoạch số 1017/KH-UBND ngày 13/06/2022 của UBND tỉnh về Kế hoạch tổ chức thực hiện phong trào thi đua "Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới" tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2021 - 2025.

- Hướng dẫn số 1826/HD-SNV ngày 13/10/2022 của Sở Nội vụ về Khen thưởng thành tích trong thực hiện phong trào thi đua "Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới" tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2021 - 2025.

Các Sở, ban, ngành, Mặt trận, đoàn thể cấp tỉnh theo chức năng, nhiệm vụ được giao đã chủ động tham mưu cho tỉnh và ban hành các văn bản hướng dẫn các cơ quan đơn vị, địa phương thực hiện Phong trào thi đua xây dựng nông thôn mới theo quy định.

2. Đánh giá kết quả tổ chức triển khai Phong trào thi đua

a) Các phong trào thi đua của cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương hưởng ứng tổ chức triển khai

UBND tỉnh ban hành Kế hoạch tổ chức thực hiện phong trào thi đua với nội dung tiêu chí cụ thể, giao nhiệm vụ cho các cơ quan, đơn vị, địa phương doanh nghiệp theo chức năng nhiệm vụ triển khai thực hiện các nội dung. Cả hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở đã vào cuộc một cách đồng bộ, quyết liệt góp phần quan trọng vào kết quả thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới: 

- Phong trào “Toàn dân chung sức xây dựng nông thôn mới”: vận động Nhân dân tham gia đóng góp nguồn lực bằng tiền, công lao động, hiện vật, hiến đất, giao thông nông thôn, huy động nguồn đóng góp từ doanh nghiệp.

- Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh” được Ủy ban Mặt trận tổ quốc tỉnh tiếp tục tổ chức thực hiện có hiệu quả, đổi mới về nội dung, phương thức thực hiện với nhiều cách làm hay, sáng tạo, đã huy động xã hội hóa trên 460,513 tỷ đồng để thực hiện phong trào thi đua. 

- Phong trào “Xây dựng khu dân cư nông thôn mới kiểu mẫu, vườn mẫu”, phong trào đã lan tỏa mạnh mẽ, trở thành phong trào sâu, rộng trong Nhân dân, được người dân tập trung củng cố, duy trì, tạo diện mạo mới cho nông thôn ở nhiều địa phương. Đến nay, toàn tỉnh có 77 khu dân cư NTM kiểu mẫu; 124 vườn mẫu, 06 thôn bản đạt chuẩn nông thôn mới tại các xã đặc biệt khó khăn. 

- Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”, “Tổ phụ nữ tự quản đường giao thông nông thôn”, “Đường hoa nông thôn”, “Cựu chiến binh thi đua làm kinh tế giỏi”; xây dựng công trình “Thắp sáng đường quê”...trong những năm qua tiếp tục được Nhân dân các địa phương tích cực hưởng ứng. Các tuyến đường được kết nối liên hoàn và thông suốt với nhau tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. 

- UBND các huyện, thị xã, thành phố với các phong trào như: Phong trào hiến đất làm đường giao thông nông thôn; “Nhà sạch, vườn đẹp”; Phong trào “Phụ nữ giúp nhau phát triển kinh tế gia đình”... qua đó đã giúp cho công tác xây dựng nông thôn mới những thành quả đáng khích lệ.

b) Đánh giá tác động của Phong trào thi đua góp phần thực hiện thắng lợi CTMTQG xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021-2025

Đến nay chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận, toàn tỉnh có 97/122 xã đạt chuẩn nông thôn mới, chiếm 79,5% tổng số xã; 17/97 xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao, chiếm 16,5%; 06/97 xã đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu. Đặc biệt có 02 đơn vị cấp huyện hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới (thị xã Ba Đồn, thành phố Đồng Hới), có 77 khu dân cư kiểu mẫu, 124 vườn mẫu đạt chuẩn được công nhận, có 06 thôn bản đạt chuẩn nông thôn mới tại các xã đặc biệt khó khăn. Đây là kết quả quan trọng, đánh dấu bước đầu tiên tỉnh Quảng Bình có đơn vị hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới, góp phần đạt mục tiêu Nghị quyết đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII nhiệm kỳ 2020 - 2025 đề ra. 

- Tình hình huy động, phân bổ và sử dụng nguồn vốn CTMTQG xây dựng NTM giai đoạn 2021-2025 và kết quả thực hiện mục tiêu của Chương trình.

Tổng nguồn lực huy động giai đoạn 2021 - 2025 để thực hiện Chương trình là: 25.902,114 tỷ đồng, trong đó: vốn ngân sách Trung ương bố trí trực tiếp: 782,841 tỷ đồng; vốn ngân sách địa phương: 1.917,379 tỷ đồng; vốn lồng ghép từ các Chương trình dự án: 1.648,081 tỷ đồng; vốn tín dụng: 21.000,0 tỷ đồng; vốn doanh nghiệp: 45,8 tỷ đồng; huy động đóng góp của người dân: 508,013 tỷ đồng.

- Kết quả rà soát tiêu chí xã nông thôn mới
Tổng số xã thực hiện rà soát: 122 xã, trong đó: 
+ Số xã đạt 19 tiêu chí: 98 xã (trong đó 97 xã đã có Quyết định công nhận), chiếm 80,3%. 
+ Số xã đạt từ 15 - 18 tiêu chí: 10 xã, chiếm 8,2%. 
+ Số xã đạt dưới 15 tiêu chí: 09 xã, chiếm 7,4%. 
+ Số xã dưới 10 tiêu chí: 05 xã, chiếm 4,1% 
+ Số tiêu chí đạt chuẩn bình quân/xã: 17,9 tiêu chí/xã 
* Số xã đạt theo tiêu chí như sau:
 + Tiêu chí số 01 Quy hoạch: 122 xã, đạt 100,0%. 
+ Tiêu chí số 02 Giao thông: 113 xã, đạt 92,6%.
+ Tiêu chí số 03 Thủy lợi và phòng, chống thiên tai: 120 xã, đạt 98,4%. 
+ Tiêu chí số 04 Điện: 118 xã, đạt 96,7%.
+ Tiêu chí số 05 Trường học: 108 xã, đạt 88,5%. 
+ Tiêu chí số 06 Cơ sở vật chất văn hoá: 110 xã, đạt 90,2%.
+ Tiêu chí số 07 Cơ sở hạ tầng thương mại nông thôn: 115 xã, đạt 94,3%.
 + Tiêu chí số 08 Thông tin và truyền thông: 120 xã, đạt 98,4%. 
+ Tiêu chí 09 Nhà ở dân cư: 113 xã, đạt 92,6%. 
+ Tiêu chí số 10 Thu nhập: 106 xã, đạt 86,9%. 
+ Tiêu chí sô 11 Nghèo đa chiều: 106 xã, đạt 86,9%. 
+ Tiêu chí sô 12 Lao động: 118 xã, đạt 96,7%. 
+ Tiêu chí số 13 Tổ chức sản xuất và phát triển kinh tế nông thôn: 113 xã, đạt 92,6%. 
+ Tiêu chí số 14 Giáo dục và đào tạo: 118 xã, đạt 96,7%.
+ Tiêu chí số 15 Y tế: 115 xã, đạt 94,3%. 
+ Tiêu chí số 16 Văn hóa: 116 xã, đạt 95,1%.
+ Tiêu chí số 17 Môi trường và an toàn thực phẩm: 108 xã, đạt 88,5%. 
+ Tiêu chí 18 Hệ thống chính trị và tiếp cận pháp luật: 119 xã, đạt 97,5%. + Tiêu chí 19 Quốc phòng và An ninh: 120 xã, đạt 98,4%.

3. Công tác phát hiện, bồi dưỡng tuyên truyền, nhân rộng điển hình tiên tiến, mô hình hay, cách làm mới, sáng tạo trong Phong trào thi đua

a) Mô hình, cách làm mới, sáng tạo, các gương điển hình tiên tiến tiêu biểu

- Gương điển hình tiên tiến: Hội Nông dân xã Sơn Hóa, huyện Tuyên Hóa: Vận động nông dân xây dựng mô hình trồng cây dược liệu sạch tại thôn Tam Đa đạt hiệu quả tốt. Thành lập HTX dược liệu sạch Thuỷ Mai, thu hút, giải quyết việc làm thường xuyên cho trên 35 hội viên và được UBND tỉnh công nhận đạt tiêu chuẩn 03 sao sản phẩm OCOP cấp tỉnh. Ông Đinh Xuân Nam,  Hội viên Hội nông dân thôn Tân Tiến, xã Hóa Hợp, huyện Minh Hóa: Xây dựng mô hình trồng bưởi da xanh, nuôi ong lấy mật. Giải quyết việc làm cho hơn 15 người lao động cho thu nhập 300.000 đồng/ người/ngày. Thu nhập 200 triệu đồng/năm ngoài chi phí. Ông Hồ Văn Chưng, bản Khe Ngang, xã Trường Xuân, huyện Quảng Ninh: Hiến đất phục vụ xây dựng nông thôn mới với diện tích 910 m2 đất trồng cây lâu năm, hiến 250 cây các loại như (Mít, bưởi, cam, chuối…). Ngoài ra: Nhân dân và cán bộ xã Tân Hóa, huyện Minh Hóa;; Ban công tác Mặt trận thôn Thuận Tiến, xã Thuận Hóa, huyện Tuyên Hóa; Ủy ban nhân dân xã Châu Hóa, huyện Tuyên Hóa; Chi hội phụ nữ thôn Tân Tiến, xã Quảng Tân, thị xã Ba Đồn; Tập thể UBND xã Đức Ninh, thành phố Đồng Hới; Mai Vũ Bảo, Trưởng thôn Mai Hạ, xã Xuân Thuỷ, huyện Lệ Thủy; Ông Lê Xuân Gọn - Trưởng thôn Long Đại, xã Trường Thuỷ, huyện Lệ Thủy…cũng hoạt động

hiệu quả giúp thực hiện nông thôn mới thuận lợi và nâng cao thu nhập cho các hộ nông dân trên các địa bàn huyện. 
- Mô hình “Tuyến đường nông thôn mới kiểu mẫu sáng - xanh - sạch - đẹp”; bảng pano tuyên truyền của Văn phòng Điều phối Nông thôn mới tỉnh; Mô hình “Gia đình 5 có - 3 sạch - Nông thôn mới kiểu mẫu”, Mô hình "Hàng rào xanh nông thôn mới", mô hình “Đường hoa kiểu mẫu” của Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh; “Đề án xây dựng mô hình KDC nông thôn mới, nông thôn mới kiểu mẫu và đô thị văn minh kiểu mẫu giai đoạn 2020 - 2025”, “Khu dân cư bảo vệ môi trường” của UBMT TQVN; mô hình “Thành lập đội hình trí thức trẻ tình nguyện chung tay xây dựng nông thôn mới năm 2023”, Mô hình “Mỗi đoàn viên một cây xanh - mỗi cơ sở Đoàn một công trình xanh”; “Mô hình làng quê đáng sống” của Tỉnh đoàn…..
Mô hình xây dựng, triển khai các chuỗi liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Nhiều chuỗi liên kết đã phát huy hiệu quả như chuỗi gạo sạch SRI, nấm sạch Tuấn Linh, cà gai leo, sâm Bố Chính, rau sạch An Nông, tinh dầu lạc, sản xuất và chế biến khoai lang, bánh mè xát, nước mắm, ớt, tinh dầu tràm, tinh dầu sả, tỏi Ba Đồn, gà đồi Tuyên Hóa, tiêu đen Quảng Bình... 

- Xây dựng sản phẩm OCOP: đến nay toàn tỉnh có 225 sản phẩm OCOP được công nhận còn thời hạn, trong đó có 188 sản phẩm OCOP đạt 3 sao, 34 sản phẩm OCOP đạt 4 sao, 03 sản phẩm OCOP đạt tiềm năng 5 sao (hiện đang trình Trung ương đánh giá, phân hạng sản phẩm OCOP cấp quốc gia), với 114 chủ thể kinh tế có sản phẩm OCOP được công nhận, gồm 61 hợp tác xã, 21 doanh nghiệp, 32 hộ kinh doanh cá thể. Hiện nay, các địa phương đang tiếp tục triển khai thực hiện Chương trình OCOP trên cơ sở chuẩn hoá các sản phẩm có tiềm năng, lợi thế, các sản phẩm nổi trội để tập trung phát triển. 

- Cách làm mới, sáng tạo: Đã vận động nguồn lực ngoài cộng đồng hỗ trợ xây dựng nông thôn mới bằng các hình thức như: hỗ trợ làm đường nông thôn, hỗ trợ ngày công, hiến đất làm đường, hỗ trợ xây dựng, sửa chữa nhà ở, hỗ trợ vốn giúp nhau làm kinh tế gia đình, …đã tác động rất lớn trong thực hiện Phong trào thi đua.

b) Các hình thức, giải pháp phát hiện, bồi dưỡng, tuyên truyền, nhân rộng điển hình tiên tiến, mô hình hay, cách làm mới, sáng tạo.

- Luôn lấy sự hài lòng của người dân trong phát động, triển khai Phong trào thi đua.

- Xác định huy động nguồn lực rất quan trọng trong quá trình thực hiện Phong trào thi đua, nên ngoài vốn Ngân sách Nhà nước, các cơ quan, đơn

vị, địa phương huy động được sự đóng góp của cộng đồng dân cư, doanh nghiệp:
- Phân công cơ quan, đơn vị chức năng của tỉnh phụ trách kết nghĩa với các xã trong tỉnh giúp xã xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững. 

- Các sở, ngành rà soát lại các cơ chế, chính sách đã ban hành, nghiên cứu các quy định liên quan để tham mưu UBND tỉnh sửa đổi, bổ sung đảm bảo phù hợp và hiệu quả. Tăng cường trách nhiệm trong thực hiện các tiêu chí có liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của sở, ngành mình, chủ động kiến nghị với Bộ, cơ quan chủ quản hoặc tham mưu UBND tỉnh giải pháp tháo gỡ đối với các tiêu chí khó trong thực hiện.

4. Công tác khen thưởng 
UBND tỉnh đã chỉ đạo các cơ quan, đơn vị, địa phương biểu dương khen thưởng theo thẩm quyền và đề nghị khen thưởng đối với các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc, tiêu biểu theo Kế hoạch số 1017/KH-UBND ngày 13/6/2022 của Ủy ban nhân dân tỉnh tổ chức thực hiện Phong trào thi đua “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới” giai đoạn 2021 – 2025 (có Phụ lục 2 đính kèm).

5. Công tác kiểm tra, giám sát

- UBND tỉnh giao Sở Nội vụ (Cơ quan Thường trực Hội đồng TĐ-KT tỉnh) xây dựng kế hoạch và phối hợp tổ chức kiểm tra công tác quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng định kỳ năm. Trong giai đoạn 2021 - 2025, đã ban hành kế hoạch tổ chức kiểm tra công tác quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng; đã tổ chức đoàn kiểm tra, giám sát phong trào thi đua, khen thưởng tại 13 cơ quan, đơn vị, địa phương (năm 2021: 04 đơn vị, năm 2022: 03 đơn vị; năm 2023: 03 đơn vị; năm 2024: 03 đơn vị).

Công tác kiểm tra, giám sát thực hiện Phong trào thi đua được các cấp ủy, chính quyền các cấp triển khai thực hiện một cách thường xuyên để lắng nghe những kiến nghị đề xuất, phát hiện kịp thời tháo gỡ những vướng mắc, bất cập trong quá trình thực hiện Phong trào thi đua ở cơ sở, phát hiện những cách làm hay, sáng tạo, những mô hình hiệu quả để tuyên truyền và nhân rộng.

III. ĐÁNH GIÁ CHUNG 

1. Đánh giá chung

a) Ưu điểm 

Phong trào thi đua “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới” giai đoạn 2021-2025 với mục đích cụ thể hóa, đưa các Nghị quyết của Đảng về nông nghiệp, nông dân, nông thôn vào cuộc sống, góp phần cải thiện diện mạo nông thôn, thực hiện hiệu qủa cơ cấu lại nông nghiệp, từng bước nâng cao chất lượng đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn.

Kết quả của phong trào thi đua đã có những đóng góp quan trọng làm thay đổi diện mạo nông thôn: Hạ tầng KTXH tiếp tục được đầu tư cải tạo, nâng cấp và làm mới tương đối đồng bộ; nhiều mô hình phát triển sản xuất có hiệu quả được nhân rộng; giáo dục và đào tạo phát triển ổn định vững chắc; hoạt động văn hóa thể dục, thể thao ngày càng phát triển cả về số lượng cũng như chất lượng; môi trường nông thôn được cải thiện theo hướng sáng - xanh - sạch - đẹp; hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; an toàn, an ninh, trật tự an toàn xã hội ở nông thôn luôn được ổn định. Qua đó đã tạo cho nông thôn trong tỉnh một diện mạo văn minh, văn hóa, sản xuất phát triển, đời sống Nhân dân được nâng cao. Các xã, huyện trong tỉnh đã và đang triển khai xây dựng nông thôn mới nâng cao hướng tới nông thôn mới kiểu mẫu. 

Đến nay, Quảng Bình có 97/122 số xã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới, có 02 đơn vị cấp huyện hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới (thị xã Ba Đồn; thành phố Đồng Hới); có 17/97 xã công nhận đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao; 06/97 xã đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu
b) Hạn chế

- Việc nhân rộng các mô hình, giải pháp còn hạn chế, các hình thức tuyên truyền chưa đa dạng, sự chênh lệch giữa thu nhập thành thị và nông thôn vẫn lớn, ô nhiễm môi trường nông thôn chưa được giải quyết triệt để, chưa phát huy được hết tiềm năng của địa phương.
- Phong trào thi đua một số cơ quan, đơn vị, địa phương triển khai chưa sâu rộng, chưa có chiều sâu, chưa huy động được sự tham gia tích cực của các tầng lớp Nhân dân. 

2. Nguyên nhân của hạn chế 
a) Nguyên nhân khách quan:

- Nguồn kinh phí thực hiện Chương trình còn rất hạn chế so với mục tiêu, nhiệm vụ; thiếu các giải pháp và mô hình hiệu quả để nhân rộng, sự thiếu hụt nguồn nhân lực có kỹ thuật chuyên ngành cũng ảnh hưởng đến hiệu quả của phong trào. 

- Các xã có điều kiện kinh tế xã hội không đều nhau, các xã miền biển, bãi ngang còn nhiều khó khăn nên càng về sau Chương trình mục tiêu quốc gia càng khó khăn hơn. Bên cạnh đó, chất lượng đời sống, thu nhập của người dân không đồng đều, khoảng cách giàu nghèo ngàng càng cao.

- Các hình thức tuyên truyền về nội dung phong trào thi đua chưa thật sự phong phú và đa dạng các hình thức nên phần nào cũng còn hạn chế đến hiệu quả thực hiện Chương trình.

b) Nguyên nhân chủ quan: 

- Việc đánh giá thực trạng, mức độ đạt chuẩn tiêu chí tại một số xã chưa sát thực tế, ảnh hưởng lớn đến việc xác định nội dung, công việc và lộ trình thực hiện.

- Thực tế triển khai xây dựng nông thôn mới tại các địa phương cho thấy, sinh kế người dân nông thôn, giải quyết việc làm, bảo hiểm y tế, chăm sóc sức khỏe Nhân dân vẫn chưa có những giải pháp căn cơ, bền vững. Cùng với đó, một số xã vẫn chưa phát huy tích cực vai trò của cộng đồng dân cư trong tổ chức sản xuất và phát triển kinh tế nông thôn. 

- Các Chương trình đều có khối lượng công việc nhiều, đa ngành, đa lĩnh vực, hướng đến mục tiêu bền vững, tuy nhiên, bộ máy giúp việc ít, chủ yếu là kiêm nhiệm nên đã ảnh hưởng đến công tác tham mưu thực hiện Phong trào thi đua.

3. Biện pháp, giải pháp nâng cao chất lượng Phong trào thi đua trong thời gian tới.  

- Tăng cường sự lãnh đạo chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền các cấp trong tổ chức thực hiện các phong trào thi đua, huy động sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp Nhân dân tham gia thực hiện theo các nhiệm vụ, kế hoạch đề ra. Công tác chỉ đạo triển khai phong trào thi đua phải thực hiện đồng bộ, toàn diện đối với tất cả các địa phương, cơ quan, đơn vị, toàn thể Nhân dân trên địa bàn tỉnh. Các cấp, các ngành phải xác định tổ chức, thực hiện các phong trào thi đua là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội xây dựng kế hoạch cụ thể, phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa phương, cơ quan, đơn vị.

- Kịp thời cụ thể hóa cơ chế, chính sách của Trung ương để nghiên cứu ban hành chính sách riêng của địa phương, góp phần nâng cao hiệu quả, tránh lãng phí nguồn lực. Hoàn thiện các bộ tiêu chí xã nông thôn mới, nông thôn mới nâng cao, kiểu mẫu (các tiêu chí Trung ương giao tỉnh tự quy định cho phù hợp với tình hình thực tế), tiêu chí thôn, bản nông thôn mới kiểu mẫu, tiêu chí vườn mẫu áp dụng trên địa bàn tỉnh, phù hợp với từng vùng trong tỉnh.

- Đầu tư có trọng tâm trọng điểm, chú trọng đẩy mạnh các hình thức xã hội hóa đầu tư, huy động tối đa các nguồn vốn của các tổ chức, doanh nghiệp và nhân dân trong và ngoài tỉnh cho NTM; tranh thủ các nguồn tài trợ từ các tổ chức chính phủ, phi chính phủ để tăng nguồn lực cho xây dựng NTM. Bố trí hợp lý nguồn lực từ nguồn ngân sách địa phương để hỗ trợ cho các xã, huyện đạt chuẩn NTM, NTM kiểu mẫu, phát triển sản phẩm OCOP; hỗ trợ phát triển sản xuất theo hướng liên kết, ứng dụng công nghệ cao, hữu cơ,... nhằm xây dựng nông thôn mới đi vào chiều sâu và hiệu quả. Huy động hiệu quả các nguồn vật liệu sẵn có trên địa bàn để giảm thiểu kinh phí, phát huy nguồn lực đầu tư. 

- Tăng cường thực hiện bồi dưỡng trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức phụ trách, nhất là "cán bộ nào, phong trào đấy". Tiếp tục triển khai công tác đào tạo tập huấn theo Kế hoạch tập huấn, bồi dưỡng cán bộ, nông dân về các chính sách của Đảng và Nhà nước có liên quan.

- Tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát, đánh giá việc thực hiện Chương trình ở các cấp, các ngành. Kịp thời khen thưởng những tổ chức, cá nhân làm tốt, đồng thời có biện pháp phòng ngừa, kịp thời ngăn chặn các biểu hiện tiêu cực, lãng phí, xử lý nghiêm các vi phạm trong quá trình thực hiện Chương trình chính quyền các cấp, nhất là vai trò người đứng đầu.

4. Những khó khăn vướng mắc trong triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia XDNTM và Phong trào thi đua

- Khoảng cách chênh lệch về kết quả xây dựng nông thôn mới giữa các địa phương còn khá lớn, trong khi nhiều xã đã chuyển sang giai đoạn nâng cao chất lượng, xây dựng xã nông thôn mới nâng cao và kiểu mẫu thì một số xã có số tiêu chí đạt rất thấp.

- Công tác duy trì và nâng cao chất lượng tiêu chí của các xã đã đạt chuẩn còn hạn chế, vẫn còn 19 xã đã đạt chuẩn giai đoạn 2010 – 2020 chưa đáp ứng yêu cầu Bộ tiêu chí giai đoạn 2021 – 2025.

- Cán bộ phụ trách lĩnh vực nông thôn mới cấp huyện, xã thực hiện đồng thời nhiều nhiệm vụ của đơn vị, luân chuyển công tác nên ảnh hưởng đến công tác tham mưu, chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện chương trình.

- Hầu hết các xã trên địa bàn tỉnh phấn đấu về đích giai đoạn 2021 – 2025 đều là những xã khó khăn, có điều kiện tự nhiên không thuận lợi, khó thu hút đầu tư phát triển sản xuất dẫn đến thu nhập bình quân đầu người, đời sống của người dân không cao, khó huy động được nguồn lực xã hội hóa.

- Nguồn kinh phí thực hiện Chương trình còn rất hạn chế so với yêu cầu, nhiệm vụ, đặc biệt là nguồn kinh phí duy tu, bảo dưỡng nên nhiều công trình xuống cấp, ảnh hưởng đến việc giữ vững và nâng cao chất lượng tiêu chí.

- Trong thời gian qua, phong trào thi đua trên địa bàn tỉnh đã đạt được kết quả đáng ghi nhận. Tuy nhiên, ở một số nơi phong trào thi đua chưa thật sự sâu rộng. Công tác phát hiện, bồi dưỡng, nhân rộng các gương điển hình tiên tiến thông qua phong trào thi đua còn chưa thực hiện tốt. Công tác tuyên truyền, phổ biến, nhân rộng kinh nghiệm tốt, cách làm hay trong phong trào thi đua còn ít được quan tâm.

V. KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT 

Tăng cường tổ chức các hoạt động, trao đổi chuyên môn nghiệp vụ, kinh nghiệm, mô hình, cách làm hiệu quả, nâng cao kỹ năng cho cán bộ làm công tác thi đua, khen thưởng trong việc phát hiện, bồi dưỡng và nhân rộng các mô hình, gương điển hình tiên tiến, đặc biệt là đối với các mô hình điển hình trong Phong trào thi đua “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới” giai đoạn 2021 - 2025.

Trên đây là Báo cáo tổng kết 05 năm thực hiện Phong trào thi đua “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới” giai đoạn 2021 - 2025 của tỉnh; UBND tỉnh Quảng Bình báo cáo Bộ Nội vụ (Ban Thi đua - Khen thưởng Trung ương) biết, tổng hợp./.

Báo cáo số 156/BC-UBND ngày 06/6/2025

Các tin khác

Thông báo mới

VB mới

Chủ tịch HCM và đại tướng Võ Nguyên Giáp

Thông tin tuyên truyền (PBPL ... DVC)

Footer Quảng Bình

Lượt truy cập