Chi tiết tin - Quảng Bình
Báo cáo kết quả thực hiện Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới năm 2023 và kế hoạch thực hiện nhiệm vụ năm 2024
(Quang Binh Portal) - Ngày 16/4/2024, UBND tỉnh, Ban Chỉ đạo Chương trình mục tiêu Quốc gia báo cáo số 2055/BC-BCĐ về báo cáo kết quả thực hiện Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới năm 2023 và kế hoạch thực hiện nhiệm vụ năm 2024.
Phần thứ nhất
ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH TRIỂN KHAI, KẾT QUẢ THỰC HIỆN
I. CÔNG TÁC CHỈ ĐẠO, ĐIỀU HÀNH
1. Việc ban hành văn bản thực hiện Chương trình
Thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ của Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới năm 2023 đã được Tỉnh ủy, HĐND tỉnh, UBND tỉnh đề ra, UBND tỉnh, Ban Chỉ đạo các chương trình MTQG tỉnh đã ban hành hệ thống cơ chế, chính sách và văn bản hướng dẫn, đôn đốc thực hiện Chương trình. Nhìn chung, các văn bản được ban hành kịp thời, đầy đủ là căn cứ pháp lý quan trọng để các sở, ngành, đơn vị, địa phương triển khai thực hiện.
(Danh mục văn bản tại Phụ lục 01 kèm theo)
2. Công tác tuyên truyền, đào tạo tập huấn
2.1. Công tác tuyên truyền:
Công tác tuyên truyền, vận động về xây dựng nông thôn mới tiếp tục được chú trọng và phát huy hiệu quả, tạo sự lan tỏa mạnh mẽ của Phong trào “Chung sức xây dựng nông thôn mới tỉnh Quảng Bình”. Công tác tuyên truyền được triển khai thông qua nhiều hình thức phong phú, đa dạng như trên báo, website, đài truyền thanh - truyền hình; thông qua các hội nghị, các buổi họp thôn, bản; pa nô, áp phích.
Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh tiếp tục chỉ đạo, hướng dẫn Mặt trận các cấp thực hiện chương trình thông qua Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”. Trong năm 2023 đã có hơn 1.000 tin, bài, phóng sự tuyên truyền về Cuộc vận động, tổ chức được gần 15.000 lượt tuyên truyền.
Các cơ quan thông tấn, báo chí trong và ngoài tỉnh tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền về xây dựng nông thôn mới. Báo Quảng Bình, Đài Phát thanh - Truyền hình Quảng Bình đã tập trung tuyên truyền nông thôn mới trên làn sóng phát thanh, truyền hình và các nền tảng số. Năm 2023, chuyên mục ”Xây dựng nông thôn mới và đô thị văn minh” tiếp tục được duy trì và đổi mới nhằm tăng lượng khán giả với 16 số/năm; 15 phút/số; hàng trăm tin, bài phóng sự đã được thực hiện, trên cơ sở bám sát sự chỉ đạo điều hành của Trung ương, của tỉnh nhằm tuyên truyền tổng thể về Chương trình xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021 - 2025; tuyên truyền Chương trình OCOP qua chương trình “Điểm hẹn OCOP” với 16 số/năm, thời
lượng 30 phút/số. Bên cạnh việc sản xuất và phát sóng các tin, bài, chương trình, Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh đã lựa chọn sản xuất, chuyển thể, phát sóng trên sóng phát thanh và các nền tảng số của QBTV. Văn phòng Điều phối tỉnh cung cấp 16 pa nô áp phích cỡ lớn, cấp phát 537 cuốn cẩm nang về Bộ tiêu chí và các văn bản hướng dẫn thực hiện chương trình giai đoạn 2021 - 2025. Cập nhật tin tức, kết quả, văn bản, quy định, hướng dẫn về xây dựng nông thôn mới trên Cổng thông tin điện tử Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới tỉnh Quảng Bình (website: nongthonmoiquangbinh.vn).
Các sở, ngành, đoàn thể cũng đã triển khai nhiều hoạt động tuyên truyền, vận động hội viên, đoàn viên và nhân dân thực hiện chủ trương, đường lối về xây dựng nông thôn mới. Các địa phương đẩy mạnh công tác truyền thông thông qua các sự kiện, các ngày lễ hội, xây dựng các pano áp phích, cấp phát tờ rơi, catalog; tổ chức các cuộc thi như: “Tuyến đường nông thôn mới kiểu mẫu” của Ủy ban Mặt trận TQVN huyện Bố Trạch, hội thi “Chung sức xây dựng nông thôn mới” của huyện Lệ Thủy…qua đó nâng cao nhận thức, tạo sức lan tỏa trong cộng đồng, góp phần huy động sự vào cuộc của người dân.
2.2. Công tác đào tạo, tập huấn: Trong năm 2023, toàn tỉnh đã tổ chức 66 lớp tập huấn cho 3.019 lượt học viên và 3 đoàn học tập kinh nghiệm tại các tỉnh Thái Bình, Thừa Thiên Huế, Thanh Hóa, Ninh Bình, cụ thể: Cấp tỉnh: Đã tổ chức 09 lớp tập huấn cho 339/429 học viên và 01 đoàn học tập kinh nghiệm; cấp huyện: Đã triển khai tập huấn 57 lớp cho 2.680 học viên và 02 đoàn học tập kinh nghiệm.
3. Thành lập, kiện toàn bộ máy chỉ đạo thực hiện Chương trình
Công tác kiện toàn bộ máy chỉ đạo thực hiện Chương trình được thực hiện thường xuyên khi có sự thay đổi về nhân sự. Trong đó: Ban Chỉ đạo tỉnh: 41 thành viên; Tổ công tác chương trình nông thôn mới: 35 thành viên; Văn phòng Điều phối tỉnh: 20 thành viên (10 kiêm nhiệm và 10 chuyên trách), Ban chỉ đạo cấp huyện: 303 thành viên; Văn phòng Điều phối cấp huyện: 66 thành viên (trong đó: 7 chuyên trách, 59 kiêm nhiệm). Các sở, ngành duy trì các tổ giúp việc để tham mưu thực hiện các nội dung liên quan đến tiêu chí và địa bàn do sở, ngành mình phụ trách.
Nhìn chung, bộ máy chỉ đạo thực hiện Chương trình ngày càng được hoàn thiện để phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và tình hình thực tiễn; cơ bản đáp ứng yêu cầu công tác chỉ đạo điều hành. Tuy nhiên, bộ máy triển khai thực hiện Chương trình ở cơ sở chủ yếu là cán bộ kiêm nhiệm, chuyên trách còn ít nên công tác tham mưu thực hiện Chương trình nhiều lúc chưa được kịp thời, sâu sát, chất lượng chưa cao. Công chức cấp huyện, xã làm việc theo chế độ kiêm nhiệm nhưng chưa được hỗ trợ phụ cấp.
II. KẾT QUẢ THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH
1. Kết quả thực hiện các Bộ tiêu chí
1.1. Cấp xã:
- Xã đạt chuẩn nông thôn mới: Năm 2023, toàn tỉnh có 9 xã đăng ký đạt chuẩn NTM (7 xã đăng ký từ đầu năm và 02 xã Sơn Hóa và Xuân Trạch được đăng ký bổ sung sau họp Ban chỉ đạo tỉnh). Đến nay đã có 6 xã được xét công nhận đạt xã NTM trong năm 2023 gồm: Xã Hải Phú - huyện Bố Trạch; Xã Quảng Tiến, Xã Cảnh Hóa – huyện Quảng Trạch; Xã Thạch Hóa, Xã Sơn Hóa - huyện Tuyên Hóa;
Xã Tân Hóa - huyện Minh Hóa. Các xã còn lại gồm: Yên Hóa (Minh Hóa), Ngư Thủy Bắc (Lệ Thủy) chưa đủ điều kiện để thẩm định xét công nhận xã đạt chuẩn NTM và xã Xuân Trạch (Bố Trạch) xin gia hạn nộp hồ sơ sang Quý I năm 2024.
Đến nay, toàn tỉnh đã có 94 xã đạt chuẩn nông thôn mới, đạt 73,4%. Bình quân tiêu chí/xã đạt 16,5 tiêu chí[1], tăng 0,7 tiêu chí/xã so với năm 2022 (đạt mục tiêu đề ra: Tăng 0,5 -1 tiêu chí/xã). Trong 19 tiêu chí, có 12 tiêu chí có số xã đạt chuẩn tăng, 04 tiêu chí có số xã đạt chuẩn giảm (Cơ sở vật chất văn hóa; Cơ sở hạ tầng thương mại nông thôn, Thông tin và Truyền thông, Quốc phòng và An ninh) và 03 tiêu chí không thay đổi (Điện; Giáo dục và Đào tạo, Môi trường và An toàn thực phẩm).
1.2. Cấp huyện: Hiện nay, TX. Ba Đồn và TP. Đồng Hới đang tiếp tục triển khai các nội dung theo quy định cấp huyện hoàn thành nhiệm vụ xây dựng NTM giai đoạn 2021 - 2025. Phấn đấu trong năm 2024, TX. Ba Đồn và TP. Đồng Hới sẽ được công nhận thị xã, thành phố hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới.
1.3. Cấp thôn: Đến nay, toàn tỉnh có 03 thôn, bản thuộc các xã đặc biệt khó khăn được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới, gồm thôn Long Sơn, thôn Liên Xuân, thôn Hồng Sơn - xã Trường Sơn, tăng 01 thôn so với cuối năm 2022. Như vậy, trong 14 thôn, bản phấn đấu đạt chuẩn năm 2023, đã có 01 thôn đạt chuẩn. Kết quả của 13 thôn, bản còn lại như sau:
- 02 thôn Tân Hội, thôn Phú Kinh: Xã Liên Trạch đang làm hồ sơ thẩm tra.
- 11 thôn, bản còn lại còn nhiều tiêu chí: Thôn Tân Sơn (đạt 13/15 tiêu chí), Bản Khe Cát (12/15 tiêu chí) - xã Trường Sơn, Bản Cà Ròong 1 (9/15 tiêu chí) - xã Thượng Trạch; Bản Hóa Lương, Bản Lương Năng - xã Hóa Sơn (10/15 tiêu chí); Bản La Trọng 1 (10/15 tiêu chí); Bản Dộ Tà Vờng (06/15 tiêu chí) - xã Trọng Hóa; Bản Bãi Dinh (7/15 tiêu chí); Bản Y Leng (7/15 tiêu chí) - xã Dân Hóa; Bản Phú Minh (11/15 tiêu chí); Bản Mò O Ồ Ồ (12/15 tiêu chí) - xã Thượng Hóa.
1.4. Vườn mẫu nông thôn mới, khu dân cư nông thôn mới kiểu mẫu
Toàn tỉnh có 50 khu dân cư nông thôn mới kiểu mẫu (tăng 14 khu dân cư so với năm 2022), 92 vườn mẫu (tăng 48 vườn mẫu). Hiện nay, các địa phương đang tiếp tục thẩm tra, thẩm định, xét công nhận 11 vườn, 15 khu dân cư.
[1] Bình quân tiêu chí/xã: TX. Ba Đồn: 18,8 tiêu chí; TP. Đồng Hới: 17,8; Huyện Quảng Trạch: 17,4; Huyện Tuyên Hóa: 17,1; Huyện Quảng Ninh: 17,0; Huyện Bố Trạch: 16,3; Huyện Lệ Thủy: 15,6; Huyện Minh Hóa: 13,8.
(Chi tiết có Phụ lục 2, 3, 4 kèm theo)
2. Kết quả thực hiện 06 chương trình chuyên đề
Để triển khai có hiệu quả 6 Chương trình chuyên đề, UBND tỉnh đã phân công 06 sở, ngành chủ trì triển khai thực hiện (Công văn số 203/UBND-KT ngày 20/02/2023). Trên cơ sở đó, các sở ngành đã chủ động tham mưu UBND tỉnh ban hành Kế hoạch triển khai các Chương trình chuyên đề do sở, ngành mình phụ trách. Kết quả cụ thể:
2.1. Chương trình Mỗi xã một sản phẩm (OCOP):
- Kết quả thực hiện các mục tiêu của Chương trình OCOP: Đến nay, toàn tỉnh có 186 sản phẩm OCOP được công nhận, trong đó có 28 sản phẩm đạt hạng 4 sao, 158 sản phẩm đạt hạng 3 sao. Về cơ cấu chủ thể kinh tế: Toàn tỉnh có 106 chủ thể kinh tế có sản phẩm OCOP được công nhận, trong đó có 59 Hợp tác xã, 24 doanh nghiệp, 23 hộ kinh doanh cá thể. Hoạt động xúc tiến thương mại, quảng bá sản phẩm tiếp tục được đẩy mạnh, trong năm 2023 đã tổ chức 06 lượt tham gia xúc tiến thương mại, quảng bá sản phẩm OCOP ở trong nước. Đến nay, toàn tỉnh có 04 điểm giới thiệu và bán sản phẩm OCOP (trong đó có 03 điểm tư nhân, 01 điểm của cấp huyện), dự kiến trong năm 2024 toàn tỉnh sẽ có thêm 3-5 điểm giới thiệu và bán sản phẩm OCOP cấp tỉnh.
- Kinh phí được phân bổ trong năm 2023 là 1.050 triệu đồng để triển khai các nội dung: Dự án nâng cao năng lực sơ chế, chế biến quy mô vừa và nhỏ cho các chủ thể OCOP; Dự án xây dựng điểm giới thiệu và bán sản phẩm OCOP; Phát triển du lịch sinh thái ở nông thôn gắn liên với nâng cao vai trò của cộng đồng ở vùng đệm Vườn Quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng.
2.2. Chương trình chuyển đổi số trong xây dựng Nông thôn mới, hướng tới Nông thôn mới thông minh
- Các mục tiêu đạt được trong năm 2023:
+ Về phát triển chính quyền số: Đẩy mạnh hoạt động ứng dụng công nghệ số trong hoạt động của cơ quan nhà nước, gắn kết với chương trình cải cách hành chính nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, điều hành và chất lượng phục vụ dịch vụ công cho người dân và doanh nghiệp; Tổ chức nâng cấp, hoàn thiện, quản lý, vận hành và đẩy mạnh triển khai ứng dụng các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu dùng chung của tỉnh[1]. Đến nay, toàn tỉnh có 117 xã đạt nội dung 8.4 của Tiêu chí số 08 về Thông tin và Truyền thông theo Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới, đạt 91,4% tổng số xã (mục tiêu đến năm 2025: có ít nhất 93% số xã).
+ Về kinh tế số và xã hội số: Kinh tế số và xã hội số trên địa bàn tỉnh tiếp tục phát triển. Các tổ chức, doanh nghiệp ngày càng nhận thức rõ hơn việc sử dụng công nghệ số và dữ liệu số làm yếu tố đầu vào chính, sử dụng môi trường số làm không gian hoạt động chính, sử dụng CNTT - viễn thông để đổi mới mô hình kinh doanh, tăng năng suất lao động. Người dân đã tăng cường tiếp cận, rèn luyện kỹ
[1] Tỷ lệ trang thông tin điện tử cấp sở cung cấp, cập nhật thông tin thường xuyên là 100%; tỷ lệ trang thông tin điện tử cấp huyện cung cấp, cập nhật thông tin thường xuyên là 88%; tỷ lệ trang thông tin điện tử cấp xã cung cấp, cập nhật thông tin thường xuyên là 42%. Hệ thống thông tin giải quyết TTHC tỉnh được ứng dụng tại tất cả các sở, ban, ngành cấp tỉnh, 08/08 UBND cấp huyện và 128/128 UBND các xã. Tỷ lệ TTHC triển khai thanh tuyến trực tuyến có phát sinh giao dịch thanh toán trực tuyến là 86,9%. Tỷ lệ số hóa hồ sơ, kết quả giải quyết TTHC đạt tỷ lệ 53,3% (124.209/233.009). Hệ thống QLVB&ĐH tỉnh duy trì hoạt động ổn định, liên thông 3 cấp chính quyền địa phương với Bộ, ngành Trung ương, các địa phương khác và được tích hợp hệ thống theo dõi thực hiện nhiệm vụ của UBND tỉnh.
năng số để sử dụng các dịch vụ số, từ đó, hình thành các mối quan hệ mới trong môi trường số, hình thành thói quen số và văn hóa số.
+ Kết quả triển khai mô hình điểm thuộc Chương trình chuyên đề: Trong năm 2023, Sở Thông tin và Truyền thông đã tham mưu UBND tỉnh lựa chọn xã Bắc Trạch, huyện Bố Trạch để xây dựng thí điểm mô hình chuyển đổi số theo lĩnh vực nổi trội. Hiện nay đang triển khai thực hiện, dự kiến hoàn thành trong năm 2024.
- Kinh phí được phân bổ trong năm 2023 là 200 triệu đồng để triển khai các hạng mục lắp đặt hệ thống Wifi công cộng tại 13 xã đăng ký đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao giai đoạn 2021-2025; xây dựng 01 mô hình chuyển đổi số theo lĩnh vực nổi trội tại xã Bắc Trạch, huyện Bố Trạch của dự án “Thực hiện chuyển đổi số trong xây dựng nông thôn mới, hướng tới nông thôn mới thông minh giai đoạn 2023-2025 trên địa bàn tỉnh Quảng Bình” (tổng mức dự án là 4,5 tỷ đồng).
2.3. Chương trình khoa học và công nghệ phục vụ xây dựng Nông thôn mới:
Sở Khoa học và Công nghệ đã phối hợp với các đơn vị, địa phương tổ chức khảo sát, lựa chọn danh mục, địa điểm để triển khai thực hiện các dự án chương trình chuyên đề thuộc chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới. Căn cứ nguồn vốn được giao năm 2023, đối với dự án chương trình chuyên đề “Ứng dụng khoa học công nghệ trong đầu tư hệ thống dây chuyền chiết xuất, đóng chai nước mắm và bảo quản, chế biến thủy sản phục vụ xây dựng nông thôn mới tại Quyết định số 2170/QĐ-UBND ngày 4/8/2023 của UBND tỉnh là 200 triệu đồng. Hiện nay, Sở Khoa học và Công nghệ đang phối hợp với các đơn vị tư vấn để đề xuất danh mục triển khai dự án chương trình chuyên đề thuộc chương trình MTQG xây dựng nông thôn mơi nêu trên theo đúng tiến độ.
2.4. Chương trình tăng cường bảo vệ môi trường, an toàn thực phẩm và cấp nước sạch nông thôn.
- Kết quả thực hiện chương trình:
+ Về cấp nước sạch nông thôn: Năm 2023, đã triển khai thực hiện duy tu, bảo dưỡng, sửa chữa 9 công trình cấp nước tập trung góp phần giúp các địa phương hoàn thành các chỉ tiêu về nước sạch thuộc Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới, xã nông thôn mới nâng cao.
+ Về thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt: Toàn tỉnh có 126/151 xã, phường, thị trấn có mạng lưới thu gom, vận chuyển rác thải (đạt tỷ lệ trên 83,44%) theo các mô hình: đơn vị công ích hoặc các doanh nghiệp, tổ, đội,... Hình thức xử lý chủ yếu là chôn lấp, được thực hiện tại 07 bãi rác trên địa bàn tỉnh và 01 nhà máy xử lý rác tại Lý Trạch. Riêng địa bàn xã Tiến Hóa và 6 thôn của xã Châu Hóa thuộc huyện Tuyên Hoá xử lý bằng công nghệ đốt.
+ Về thu gom, xử lý nước thải sinh hoạt: Đến nay trên địa bàn tỉnh mới có một nhà máy xử lý nước thải sinh hoạt tập trung cùng với hệ thống thu gom xử lý nước thải khá đồng bộ tại địa bàn thành phố Đồng Hới, các huyện, thị xã còn lại chưa có hệ thống thu gom xử lý nước thải tập trung mà chủ yếu xử lý theo phương pháp tự thấm, tự chảy ra môi trường.
+ Về vệ sinh và cảnh quan môi trường: Công tác vệ sinh môi trường đã được các địa phương quan tâm, thực hiện nghiêm túc. Môi trường nông thôn đã được cải thiện các điểm nóng về ô nhiễm môi trường cơ bản đã được kiểm soát, xử lý; tình trạng ô nhiễm môi trường kéo dài tại một số cơ sở sở sản xuất đã được chấm dứt; ý
thức chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường của doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân từng bước được nâng cao.
- Kinh phí được phân bổ trong năm 2023 là 600 triệu đồng. Sở Tài nguyên và Môi trường đã thực hiện các nội dung sau: Xây dựng hệ thống xử lý nước thải tại các làng nghề chế biến bún, bánh mè xát; Nâng cấp, mở rộng công trình nước sạch nông thôn cho các xã đăng ký đạt chuẩn NTM, NTM nâng cao giai đoạn 2021-2025.
2.5. Chương trình nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện tiêu chí an ninh, trật tự trong xây dựng Nông thôn mới.
- Kết quả thực hiện chương trình: Công tác triển khai thực Chương trình nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện tiêu chí ANTT trong xây dựng nông thôn mới năm 2023 cơ bản được sự quan tâm, chỉ đạo của các cấp ủy, chính quyền và sự phối hợp chặt chẽ giữa các ban, ngành, đoàn thể các cấp; lực lượng Công an các cấp đã triển khai thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả nhiệm vụ bảo đảm an ninh, trật tự ở địa bàn nông thôn, góp phần thực hiện thắng lợi Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới. Tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn nông thôn có nhiều chuyển biến tích cực; các mâu thuẫn, tranh chấp, khiếu kiện liên quan đến đất đai trong xây dựng nông thôn mới, làm đường giao thông được giải quyết ngay tại cơ sở; công tác điều tra, khám phá tội phạm hình sự đều đạt chỉ tiêu Công an cấp trên đề ra; các loại tội phạm và tệ nạn xã hội nổi lên gây bức xúc trong dư luận xã hội từng bước được ngăn chặn kịp thời. Phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc khu vực nông thôn được đẩy mạnh, có bước phát triển mới, khơi dậy sức mạnh của Nhân dân trong giữ gìn an ninh chính trị, trật tự xã hội; có nhiều mô hình phát huy tác dụng, hiệu quả giữ vững, ổn định tình hình an ninh, trật tự ở cơ sở, thông qua phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, góp phần giữ gìn an ninh, trật tự xã hội trên địa bàn nông thôn và đảm bảo sự bình yên cho cuộc sống của người dân nông thôn.
- Kinh phí được phân bổ trong năm 2023 là 2000 triệu đồng để lắp đặt hệ thống camera giám sát an ninh tại địa bàn các xã.
2.6. Chương trình phát triển du lịch nông thôn trong xây dựng NTM
- Kết quả thực hiện chương trình: Giai đoạn 2021 – 2023, trên địa bàn tỉnh có 03 Làng Văn hóa Du lịch, Làng du lịch nông thôn được hình thành và bước đầu có sự đầu tư, hoàn thiện hạ tầng, là những điểm đến thu hút khách du lịch trong nước và quốc tế gồm: Làng Văn hóa Du lịch Cảnh Dương; Làng Văn hóa, Du lịch Cự Nẫm và Làng Du lịch thích ứng thời tiết Tân Hóa. Trên hầu hết địa bàn các huyện đều có các mô hình phát triển du lịch nông thôn tuy nhiên phần lớn là do các hộ kinh doanh tự đầu tư theo mô hình nhỏ, dựa trên đất hiện hữu, cơ bản giữ hiện trạng tự nhiên. Một số dự án đầu tư phát triển các điểm du lịch nông thôn, cơ sở lưu trú cộng đồng đã đưa vào khai thác thu hút khách du lịch như Khu du lịch Suối Đá (xã Phúc Trạch, huyện Bố Trạch), Khu du lịch Lèn Chùa và Khu nghỉ dưỡng Blue Diamond (xã Xuân Trạch), các homestay tại Làng Du lịch Tân Hóa (xã Tân Hóa, huyện Minh Hóa) góp phần đa dạng dịch vụ, tạo việc làm, sinh kế cho người dân khu vực nông thôn. Đến hết năm 2023, tất cả các công việc của Kế hoạch đều đảm bảo tiến độ.
- Kinh phí được phân bổ trong năm 2023 là 600 triệu đồng để thực hiện các nội dung: Hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật, phát triển mô hình làng văn hóa du lịch tại xã Cảnh Dương và Mai Thủy; Phát triển mô hình du lịch thích ứng thời tiết, hình thành Làng du lịch nông thôn tại xã Tân Hóa, huyện Minh Hóa.
3. Kết quả huy động, phân bổ và sử dụng nguồn lực
Tổng nguồn vốn huy động là 18.965,45 tỷ đồng. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước: 1.040,90 tỷ đồng, chiếm 5,49% (Vốn trực tiếp cho Chương trình là 690,96 tỷ đồng; vốn lồng ghép 349,94 tỷ đồng); Vốn tín dụng: 17.800,0 tỷ đồng, chiếm 93,85%; Vốn doanh nghiệp: 9,0 tỷ đồng, chiếm 0,05%; Đóng góp của cộng đồng dân cư: 115,55 tỷ đồng, chiếm 0,61%.
(Chi tiết có Phụ lục 5, 6, 7 kèm theo)
III. ĐÁNH GIÁ CHUNG
1. Những kết quả đạt được
- Công tác chỉ đạo thực hiện Chương trình được cấp uỷ, chính quyền các cấp quan tâm. Ngay sau các Hội nghị trực tuyến của Trung ương, UBND tỉnh đã tổ chức Hội nghị nhằm tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc và định hướng, chỉ đạo các địa phương tập trung triển khai, thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm của Chương trình; phân bổ nguồn vốn ĐTPT về cho huyện chủ động từ đầu giai đoạn, nguồn vốn sự nghiệp năm 2023 đã được phân bổ sớm. Công tác phối hợp triển khai giữa cơ quan chủ trì Chương trình với các sở, ngành và địa phương ngày càng chặt chẽ, hiệu quả. Một số huyện chủ động đăng ký thêm xã đạt chuẩn nông thôn mới (Bố Trạch, Tuyên Hóa) và xã nông thôn mới nâng cao (Đồng Hới) góp phần hoàn thành các nhiệm vụ được Ban Chỉ đạo tỉnh giao thực hiện trong năm 2023, đặc biệt đây là năm đầu tiên tỉnh Quảng Bình có xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao.
Các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị, xã hội từ tỉnh đến cơ sở đã vào cuộc quyết liệt, có chương trình, kế hoạch và triển khai thực hiện cụ thể với nhiều cách làm hay như: Mô hình “Tuyến đường nông thôn mới kiểu mẫu sáng – xanh – sạch – đẹp”; bảng pano tuyên truyền của Văn phòng Điều phối tỉnh; Mô hình “Gia đình 5 có – 3 sạch – Nông thôn mới kiểu mẫu”, Mô hình "Hàng rào xanh nông thôn mới", mô hình “Đường hoa kiểu mẫu” của Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh; “Đề án xây dựng mô hình KDC nông thôn mới, nông thôn mới kiểu mẫu và đô thị văn minh kiểu mẫu giai đoạn 2020 – 2025” của UBMTTQ Việt Nam; mô hình “Thành lập đội hình trí thức trẻ tình nguyện chung tay xây dựng nông thôn mới năm 2023”, Mô hình “Mỗi đoàn viên một cây xanh - mỗi cơ sở Đoàn một công trình xanh”; “Mô hình làng quê đáng sống” của Tỉnh đoàn…..
- Công tác tuyên truyền, truyền thông về nông thôn mới tiếp tục được chú trọng và phát huy hiệu quả, tập trung vào những nội dung trọng tâm của Chương trình, góp phần nâng cao nhận thức của cán bộ các cấp và người dân. Phong trào “Cả nước chung sức xây dựng Nông thôn mới” đã thực sự đi vào cuộc sống, thu hút được người dân và cộng đồng tham gia vào xây dựng nông thôn mới, nhất là những vấn đề thiết thực, tác động trực tiếp đến cải thiện chất lượng sống và điều kiện sinh hoạt ở nông thôn.
- Hệ thống văn bản được ban hành đầy đủ là cơ sở pháp lý quan trọng giúp các địa phương thuận lợi hơn trong tổ chức triển khai thực hiện, cũng như có căn
cứ để xây dựng, ban hành những cơ chế, chính sách phù hợp với điều kiện thực tế trên địa bàn theo quy định.
- UBND tỉnh đã kịp thời cho các xã đăng ký về đích nông thôn mới năm 2023 ứng trước nguồn vốn để triển khai thực hiện mục tiêu xây dựng NTM của năm 2023 là 16,407 tỷ đồng; bố trí 51,604 tỷ đồng cho 6 chương trình chuyên đề giai đoạn 2021-2025, trong đó năm 2023 là 4,650 tỷ đồng; phân bổ đủ nguồn vốn cho 3 xã Thái Thủy, Sơn Lộc, Đồng Hoá đã về đích năm 2021 và bổ sung 10,5 tỷ cho 2 xã đăng ký thêm trong năm 2023 là Xuân Trạch, Sơn Hoá để hoàn chỉnh tiêu chí Trường học; cấp kinh phí khen thưởng khu dân cư nông thôn mới kiểu mẫu, vườn mẫu nông thôn mới, thôn, bản đạt chuẩn nông thôn mới năm 2021, 2022 cho các địa phương (kinh phí 4,76 tỷ đồng, cho 25 khu dân cư nông thôn mới kiểu mẫu; 51 vườn mẫu và 02 thôn, bản).
- Các Sở, ngành được phân công đã tổ chức làm việc với các huyện và các xã phấn đấu đạt chuẩn nông thôn mới năm 2023. Một số Sở đã có những hoạt động thiết thực để giúp đỡ các xã như Công an tỉnh, Sở Tư pháp, Sở Thông tin và Truyền thông, Sở Y tế, Sở Công Thương, Sở Giao thông vận tải…
- Các huyện, thị xã, thành phố đã chủ động làm việc với các xã để rà soát tiêu chí, xây dựng kế hoạch thực hiện; một số xã đã chủ động liên lạc với các sở, ngành phụ trách để tháo gỡ khó khăn trong thực hiện các tiêu chí (Bắc Trạch, Châu Hóa…). Công tác kiểm tra giám sát tiếp tục được các cấp các ngành chú trọng thực hiện.
- Phong trào khu dân cư kiểu mẫu, vườn mẫu ở nhiều địa phương đã thúc đẩy nông thôn mới đi vào thực chất, có rất nhiều khu dân cư và vườn mẫu đạt chuẩn. Các chương trình chuyên đề bước đầu đạt được những kết quả nhất định. Việc triển khai các chương trình chuyên đề đã góp phần định hướng, hỗ trợ triển khai chương trình xây dựng nông thôn mới ngày càng đi vào chiều sâu, phát huy được nội lực, tiềm năng, lợi thế của các địa phương.
- Toàn tỉnh đã có 94 xã nông thôn mới, 09 xã nông thôn mới nâng cao, 50 khu dân cư nông thôn mới kiểu mẫu, 92 vườn mẫu và 03 thôn, bản tại các xã ĐBKK được công nhận đạt chuẩn.
2. Những khó khăn, hạn chế và nguyên nhân
2.1. Khó khăn, hạn chế
- Bộ tiêu chí nông thôn mới giai đoạn 2021-2025 nâng cao cả về chất và lượng, nhiều chỉ tiêu khó thực hiện, cần nhiều nguồn lực, thời gian để hoàn thiện, một số tiêu chí chưa phù hợp với tình hình thực tế. Trong 94 xã đã được công nhận đạt chuẩn có 46 xã đạt 19 tiêu chí theo Bộ tiêu chí giai đoạn 2021 - 2025.
- Mục tiêu số xã đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu không đạt kế hoạch đề ra. Việc chỉ đạo thực hiện xây dựng thôn (bản) đạt chuẩn nông thôn mới tại các xã ĐBKK chưa có nhiều kết quả nổi bật, số thôn (bản) đạt chuẩn còn thấp so với mục tiêu đề ra, đạt 7,1% kế hoạch.
- Kết quả xây dựng nông thôn mới vẫn còn khoảng cách chênh lệch lớn giữa các xã, trong khi nhiều xã đã chuyển sang giai đoạn nâng cao chất lượng, xây dựng xã nông thôn mới nâng cao và kiểu mẫu thì một số xã vẫn còn số tiêu chí đạt chuẩn rất thấp (có 08 xã 5 – 9 tiêu chí).
- Cán bộ phụ trách nông thôn mới cấp huyện, xã thực hiện đồng thời nhiều nhiệm vụ của đơn vị, lại có sự luân chuyển công tác nên ảnh hưởng đến công tác tham mưu, chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện Chương trình.
- Cơ sở hạ tầng nông thôn, nhất là đường giao thông, kênh mương thủy lợi, cơ sở vật chất văn hóa, trường học còn nhiều khó khăn, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển; lưới điện xuống cấp nhanh chóng và tiềm ẩn nhiều rủi ro do tỉnh Quảng Bình nằm trong khu vực thời tiết diễn biến phức tạp. Công tác quản lý, duy tu, bảo dưỡng chưa được quan tâm đúng mức dẫn đến một số công trình có dấu hiệu hư hỏng, xuống cấp.
- Hầu hết các xã trên địa bàn tỉnh phấn đấu về đích giai đoạn 2021 - 2025 đều là những xã khó khăn, có điều kiện tự nhiên không thuận lợi, khó thu hút đầu tư phát triển sản xuất dẫn đến thu nhập bình quân đầu người, đời sống của người dân không cao, khó huy động được nguồn lực xã hội hóa.
- Việc triển khai ứng dụng CNTT, sử dụng phần mềm dùng chung ở nhiều xã còn khó khăn, hiệu quả chưa cao. Chưa có cơ chế, chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp bưu chính, viễn thông trong triển khai thực hiện, duy trì, nâng cấp hạ tầng, dịch vụ tại các khu vực miền núi, khu vực đặc biệt khó khăn. Một số địa phương chưa phối hợp giải quyết tốt các khó khăn, vướng mắc tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát triển hạ tầng, dịch vụ bưu chính, viễn thông, mở rộng vùng phủ sóng để nâng cao chất lượng.
- Việc xây dựng các cơ sở hạ tầng bán lẻ khác (siêu thị mini, cửa hàng tiện lợi hoặc cửa hàng kinh doanh tổng hợp đối với các xã vùng sâu, vùng xa gặp nhiều khó khăn do nguồn vốn đầu tư của các cá nhân, doanh nghiệp hạn hẹp chưa đáp ứng được các điều kiện như: diện tích, đa dạng hóa mặt hàng kinh doanh…mặt khác, người dân chủ yếu tự cung tự cấp nên đầu tư cơ sở hạ tầng bán lẻ ít sinh lợi nhuận vì vậy các cá nhân, doanh nghiệp chưa thật sự quan tâm để đầu tư hạ tầng bán lẻ ở những khu vực này.
- Tình hình an ninh trật tự ở một số địa bàn còn tiềm ẩn phức tạp, tiêu chí Quốc phòng - An ninh thiếu bền vững. Công tác nắm tình hình ở cơ sở có lúc chưa kịp thời, việc tham mưu cho cấp uỷ, chính quyền giải quyết các vụ việc liên quan đến ANTT nông thôn có lúc còn bị động nên hiệu quả chưa cao, ảnh hưởng đến mục tiêu xây dựng nông thôn mới. Việc đánh giá phân loại danh hiệu thi đua cho Ban Công an xã hằng năm không quá 80% tổng số đơn vị Công an xã đạt “Đơn vị tiên tiến” nên ảnh hưởng lớn đến tỷ lệ công nhận xã đạt Tiêu chí 19.2 hàng năm.
- Chế độ báo cáo ở một số địa phương, đơn vị chưa nghiêm túc, ảnh hưởng đến công tác chỉ đạo điều hành Chương trình.
2.2. Nguyên nhân
* Nguyên nhân khách quan
- Do hệ thống văn bản pháp lý, văn bản hướng dẫn thực hiện chương trình chậm được ban hành; Bộ tiêu chí giai đoạn 2021 - 2025 tăng cả về nội dung và chất lượng tiêu chí, nhiều tiêu chí yêu cầu cao và khó (Bộ tiêu chí nông thôn mới giai đoạn 2021 - 2025 tăng 08 nội dung, Bộ tiêu chí nông thôn mới nâng cao tăng 5 tiêu chí, 35 nội dung so với giai đoạn trước).
- Một số văn bản sau khi ban hành đã phát sinh những vướng mắc, bất cập, chưa phù hợp với điều kiện thực tế các địa phương do đó ảnh hưởng lớn đến tiến
độ của các xã. Ngoài các tiêu chí Trung ương sửa đổi tại Quyết định 211/QĐ-TTg ngày 01/3/2024, thì hầu hết các xã phấn đấu đạt NTM nâng cao đều rất khó đạt nội dung “Trung tâm văn hóa thể thao xã được đầu tư xây dựng riêng biệt bên ngoài khu hành chính của xã” thuộc chỉ tiêu 6.1, tiêu chí số 6.
- Chất lượng tiêu chí các xã đã đạt chuẩn ở giai đoạn trước còn thấp, do đó để đáp ứng ngay yêu cầu Bộ tiêu chí mới hoặc nâng chất để phấn đấu lên xã nông thôn mới nâng cao, kiểu mẫu của giai đoạn mới cần nhiều thời gian và nguồn lực, trong khi đó nguồn lực của tỉnh và các địa phương còn nhiều khó khăn và hạn chế.
* Nguyên nhân chủ quan
- Chương trình xây dựng nông thôn mới có nhiều nội dung toàn diện, tổng hợp và thực hiện trong thời gian dài nhưng lực lượng cán bộ ở cơ sở còn hạn chế chưa đáp ứng được yêu cầu. Cán bộ thực hiện Chương trình đều kiêm nhiệm, lại có sự luân chuyển công tác nên công tác tham mưu đôi lúc chưa kịp thời, hiệu quả.
- Một số cấp ủy, chính quyền thiếu chủ động; chưa thể hiện quyết tâm chính trị cao trong việc đặt ra mục tiêu, còn lúng túng trong tổ chức thực hiện.
- Công tác phối hợp giữa Văn phòng Điều phối Nông thôn mới và các phòng, ban cấp huyện chưa nhịp nhàng nên công tác tổng hợp kết quả tiêu chí và nguồn vốn còn sai sót.
- Mặc dù tỉnh đã có nhiều cơ chế, chính sách thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, tuy nhiên vẫn chưa có nhiều doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư, nguồn lực đóng góp cho Chương trình nông thôn mới còn hạn chế.
- Một số địa phương chưa chủ động, quyết liệt trong đánh giá, xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện tiêu chí Thông tin và Truyền thông.
Phần thứ hai
PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ NĂM 2024
I. MỤC TIÊU
- Phấn đấu năm 2024, TP. Đồng Hới và TX. Ba Đồn hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới; có thêm 09 xã đạt chuẩn nông thôn mới[1], 12 xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao[2]; 03 xã đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu[3].
- Tăng bình quân 0,5 - 1 tiêu chí/xã.
- Tiếp tục giữ vững và nâng cao chất lượng các tiêu chí. Quan tâm chỉ đạo các xã đã đạt chuẩn nông thôn mới nhưng chưa đáp ứng yêu cầu Bộ tiêu chí mới.
- Tập trung thực hiện hiệu quả 06 Chương trình chuyên đề và 11 nội dung Chương trình.
II. CÁC NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM VÀ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN
2.1. Công tác chỉ đạo Chương trình
- Tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo và quyết tâm chính trị của các cấp ủy, chính quyền địa phương và thủ trưởng các cơ quan, đơn vị trong việc tổ chức[1] Xã Ngư Thuỷ Bắc - huyện Lệ Thuỷ; Xã Phúc Trạch, Xuân Trạch - huyện Bố Trạch; Xã Quảng Kim - huyện Quảng Trạch; Xã Kim Hoá, Xã Lê Hoá - huyện Tuyên Hoá; Xã Yên Hoá, Xã Minh Hoá, Xã Hồng Hoá - huyện Minh Hoá.
[2] Xã Lộc Thủy - huyện Lệ Thủy; Xã Lương Ninh, Xã Võ Ninh, Xã Hải Ninh, Xã Vĩnh Ninh, Xã Vạn Ninh - huyện Quảng Ninh; Xã Thuận Đức, Xã Nghĩa Ninh - TP Đồng Hới; Xã Đồng Trạch, Xã Thanh Trạch, Xã Đại Trạch - huyện Bố Trạch; Xã Mai Hóa - huyện Tuyên Hóa.
[3] Xã Bắc Trạch - huyện Bố Trạch; Xã Đức Ninh, Xã Quang Phú – TP. Đồng Hới.
thực hiện Chương trình; đưa kết quả thực hiện các nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới vào tiêu chuẩn đánh giá thi đua, khen thưởng hàng năm của cá nhân, tập thể.
- Nghiên cứu, rà soát, hoàn thiện hệ thống cơ chế chính sách hỗ trợ xây dựng nông thôn mới, đảm bảo phù hợp với điều kiện thực tế; chỉ đạo các địa phương chủ động nghiên cứu, ban hành các cơ chế, chính sách đặc thù hỗ trợ thực hiện các nội dung của Chương trình theo hướng nâng cao chất lượng, đi vào chiều sâu và bền vững.
- Nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác phối hợp giữa các sở, ngành và địa phương trong công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành, triển khai thực hiện Chương trình; hoàn thành các nhiệm vụ đề ra trong năm 2024 đảm bảo chất lượng, hiệu quả, đúng tiến độ.
- Triển khai thực hiện 06 chương trình chuyên đề theo các Kế hoạch đã được UBND tỉnh phê duyệt để phát huy, tiềm năng, lợi thế từng vùng, từng địa phương trong xây dựng nông thôn mới.
- UBND các huyện, thị xã, thành phố hướng dẫn, kiểm tra các xã trong việc triển khai thực hiện Chương trình, nhất là việc huy động, phân bổ, sử dụng các nguồn vốn thực hiện Chương trình; việc triển khai thực hiện cơ chế đặc thù trong xây dựng nông thôn mới.
- Sau khi UBND tỉnh có Công văn phân công sở ngành chỉ đạo các xã năm 2024, UBND các huyện, thị, xã, thành phố và các sở, ngành được phân công phụ trách khẩn trương làm việc với các xã để nắm bắt tình hình, xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện; hướng dẫn các xã có tiêu chí bị sụt giảm do sở, ngành mình phụ trách; ưu tiên phê duyệt các thủ tục liên quan để các xã sớm về đích theo mục tiêu đề ra.
2.2. Công tác tuyên truyền, đào tạo tập huấn
- Đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền, thống nhất nhận thức, thay đổi tư duy cho cán bộ và người dân về thực hiện xây dựng nông thôn mới gắn với thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp, kinh tế nông thôn; nâng cao chất lượng các phong trào thi đua xây dựng nông thôn mới, phong trào“Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới” giai đoạn 2021-2025 ngày càng đi vào chiều sâu, tạo sự lan tỏa rộng lớn trong cả hệ thống chính trị và mọi tầng lớp nhân dân, nhất là cư dân ở nông thôn.
- Tiếp tục triển khai công tác đào tạo tập huấn theo Kế hoạch Tập huấn, bồi dưỡng cán bộ xây dựng nông thôn mới các cấp giai đoạn 2022 - 2025 đã được Ban chỉ đạo các Chương trình MTQG tỉnh ban hành tại Kế hoạch số 230/KH-BCĐ ngày 29/11/2022.
2.3. Tập trung tổ chức triển khai đồng bộ, hiệu quả các Bộ tiêu chí trong xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021 - 2025 trên địa bàn tỉnh
- Các sở, ngành rà soát lại các cơ chế, chính sách đã ban hành, nghiên cứu các quy định liên quan để tham mưu UBND tỉnh sửa đổi, bổ sung đảm bảo phù hợp và hiệu quả, đặc biệt là các chỉ tiêu, tiêu chí Trung ương sửa đổi tại Quyết định 211/QĐ-TTg ngày 01/3/2024. Tăng cường trách nhiệm trong thực hiện các tiêu chí có liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của sở, ngành mình, chủ động kiến nghị với Bộ, cơ quan chủ quản hoặc tham mưu UBND tỉnh giải pháp tháo gỡ đối với các tiêu chí khó, vướng mắc ở các địa phương…
- UBND các huyện, thị xã, thành phố phân công các phòng, ban hướng dẫn các xã triển khai thực hiện; kịp thời báo cáo khó khăn, vướng mắc với các sở, ngành phụ trách tiêu chí để tháo gỡ, đảm bảo tiến độ thực hiện Chương trình trong năm 2024.
- Đối với các xã đã được công nhận đạt chuẩn: Có kế hoạch, lộ trình cụ thể để giữ vững, nâng cao chất lượng các tiêu chí, hướng tới mục tiêu xây dựng xã nông thôn mới nâng cao, xã nông thôn mới kiểu mẫu; tránh việc bị thu hồi bằng công nhận (Theo quy định: Các xã công nhận trước giai đoạn 2021 - 2025: Thu hồi sau 24 tháng kể từ thời điểm Quyết định 18/2022/QĐ-TTg ngày 02/8/2022 có hiệu lực thi hành (tức 03.8.2024); các xã công nhận giai đoạn 2021 - 2025: Thu hồi sau 30 tháng (tức 03.2.2025).
- Đối với các xã phấn đấu đạt chuẩn năm 2024: Đảm bảo chất lượng, thực chất, không chạy theo thành tích; chủ động rà soát, đánh giá thực trạng; xây dựng lộ trình, kế hoạch và khẩn trương triển khai các tiêu chí chưa đạt; phối hợp chặt chẽ với sở, ngành được phân công chỉ đạo để triển khai đúng kế hoạch đề ra; đối với hạng mục có khối lượng công việc lớn, thời gian thi công dài cần khẩn trương triển khai sớm.
- Tập trung chỉ đạo các xã không nằm trong kế hoạch phấn đấu đạt chuẩn nông thôn mới giai đoạn 2021 - 2025 thì đến cuối năm 2025 phải đạt từ 15 tiêu chí trở lên theo mục tiêu chung của Trung ương. Đối với các xã khó khăn, cần tập trung nâng cấp cơ sở hạ tầng thiết yếu và thúc đẩy phát triển sản xuất theo chuỗi giá trị, ưu tiên tập trung đầu tư ở cấp thôn, bản.
- Tiếp tục quan tâm triển khai sâu rộng Bộ tiêu chí khu dân cư nông thôn mới kiểu mẫu, Bộ tiêu chí xây dựng vườn mẫu nông thôn mới nhằm nâng cao chất lượng xã nông thôn mới, xã nông thôn mới nâng cao; tổ chức triển khai hiệu quả công tác thẩm định, xét, công nhận và công bố nhằm tạo sức lan tỏa và hưởng ứng tích cực, mạnh mẽ của các khu dân cư và các vườn hộ.
- Tập trung triển khai sâu rộng Bộ tiêu chí thôn, bản đạt chuẩn nông thôn mới tại các xã đặc biệt khó khăn; giao chỉ tiêu, nhiệm vụ cụ thể cho từng xã thực hiện Bộ tiêu chí nhằm từng bước phấn đấu đạt chuẩn ở các thôn, bản, từ đó góp phần thực hiện hiệu quả Bộ tiêu chí xã nông thôn mới đối với các xã đặc biệt khó khăn.
2.4. Tiếp tục đẩy mạnh các giải pháp huy động và đa dạng hóa các nguồn vốn để thực hiện Chương trình:
- Thực hiện hiệu quả, đồng bộ các giải pháp huy động nguồn lực, trong đó, huy động tối đa nguồn lực của địa phương (tỉnh, huyện, xã) để tổ chức triển khai Chương trình. Ưu tiên bố trí nguồn vốn NSNN được phân bổ đầu tư cho các địa bàn khó khăn để góp phần thu hẹp khoảng cách trong xây dựng nông thôn mới giữa các vùng, miền; thực hiện lồng ghép hiệu quả nguồn vốn của 03 Chương trình mục tiêu quốc gia và các chương trình, dự án khác trên địa bàn nông thôn giai đoạn 2021 - 2025 để hỗ trợ các địa phương hoàn thành các mục tiêu xây dựng nông thôn mới; thực hiện hiệu quả chính sách tín dụng đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn.
- Tích cực giải ngân nguồn vốn được phân bổ năm 2023 và năm 2024.
2.5. Về theo dõi, giám sát, đánh giá chương trình.
- Tiếp tục phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên về việc thực hiện các chủ trương, cơ chế, chính sách, việc
sử dụng, huy động các nguồn lực. Có hình thức khen thưởng kịp thời các tổ chức, cá nhân điển hình đồng thời có biện pháp phòng ngừa, kịp thời ngăn chặn các biểu hiện tiêu cực, lãng phí, xử lý nghiêm các vi phạm trong quá trình thực hiện Chương trình.
- Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát định kỳ và đột xuất việc thực hiện Chương trình. Thực hiện nghiêm túc việc thẩm tra, thẩm định, xét, công nhận xã, thôn, huyện đạt chuẩn nông thôn mới bảo đảm thực chất, khách quan; việc thu hồi bằng công nhận xã đạt chuẩn đối với các xã không duy trì chất lượng các tiêu chí; kịp thời phát hiện và chấn chỉnh các sai phạm, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc cho các địa phương./.
BC số 2055/BC-BCĐ, ngày 16/4/2024
- Tập trung chỉ đạo duy trì và nâng cao chất lượng các chỉ tiêu đối với các xã đã đạt chuẩn nông thôn mới; phấn đấu hoàn thành mục tiêu của Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới (28/11/2023)
- Quyết định phê duyệt nhiệm vụ và dự toán kinh phí hỗ trợ phát triển hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Bình năm 2024 (31/10/2023)
- Kết luận của đồng chí Đoàn Ngọc Lâm - Phó Chủ tịch thường trực UBND tỉnh, Phó Trưởng Ban chỉ đạo các Chương trình MTQG tỉnh giai đoạn 2021 - 2025 tại cuộc họp Ban Chỉ đạo đánh giá tình hình triển khai thực hiện Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới 7 tháng đầu năm 2023, phương hướng, kế hoạch, nhiệm vụ các tháng còn lại trong năm (06/09/2023)
- Quyết định về việc giao kế hoạch vốn đầu tư phát triển NSTW giai đoạn 2021-2025, năm 2023 và điều chỉnh năm 2023 cho các đơn vị, địa phương thực hiện các Chương trình chuyên đề thuộc Chương trình MTQG Xây dựng nông thôn mới (14/08/2023)
- Đảm bảo tiêu chí về tỷ lệ người tham gia BHYT ở các xã nông thôn mới trên địa bàn toàn tỉnh (04/07/2023)
- Thông báo kết luận của đồng chí Chủ tịch UBND tỉnh Trần Thắng tại buổi kiểm tra các công trình thủy lợi cấp bách và tình hình triển khai thực hiện Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Bố Trạch (14/06/2023)
- Đẩy mạnh quy hoạch nông thôn trong xây dựng nông thôn mới gắn với quá trình đô thị hóa giai đoạn 2021-2025 (29/05/2023)
- Thực hiện Chương trình tăng cường bảo vệ môi trường, an toàn thực phẩm và cấp nước sạch nông thôn trong xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021 - 2025 của tỉnh Quảng Bình (08/05/2023)
- Tập trung chỉ đạo các xã đăng ký bổ sung đạt chuẩn nông thôn mới năm 2023 (08/05/2023)
- Quyết định về việc giao bổ sung kế hoạch vốn đầu tư phát triển nguồn NSTW giai đoạn 2021-2025 thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới (18/04/2023)







