Chi tiết tin - Quảng Bình
Báo cáo kết quả thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới năm 2022 và kế hoạch thực hiện nhiệm vụ năm 2023
(Quang Binh Portal) - Ngày 01/3/2023, Ban Chỉ đạo Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới có Báo cáo số 33/BC-BCĐ về việc Báo cáo kết quả thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới năm 2022 và kế hoạch thực hiện nhiệm vụ năm 2023. Cụ thể:
I. CÔNG TÁC CHỈ ĐẠO, ĐIỀU HÀNH
1. Việc ban hành văn bản thực hiện Chương trình
Trên cơ sở các quy định và hướng dẫn của Trung ương, Uỷ ban nhân dân tỉnh đã ban hành hệ thống cơ chế, chính sách và văn bản hướng dẫn thực hiện Chương trình giai đoạn 2021 - 2025 cơ bản đầy đủ, là căn cứ pháp lý quan trọng để các sở, ngành, đơn vị, địa phương triển khai thực hiện.
2. Công tác tuyên truyền, đào tạo tập huấn
2.1. Công tác tuyên truyền:
Công tác tuyên truyền, triển khai thực hiện các nội dung Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh” được triển khai thông qua nhiều hình thức phong phú, đa dạng. Đã có gần 800 tin, bài, phóng sự tuyên truyền về Cuộc vận động, tổ chức được gần 8.000 lượt tuyên truyền; lập trang Fanpage “Mặt trận QB xây dựng KDC NTM, ĐTVM kiểu mẫu” với sức lan tỏa rộng, hiệu ứng tuyên truyền cao góp phần thông tin, biểu dương, cổ vũ kịp thời, hiệu quả hoạt động của các mô hình .
Báo Quảng Bình, Đài Phát thanh và Truyền hình Quảng Bình đã tập trung tuyên truyền Nông thôn mới trên làn sóng phát thanh, truyền hình và các nền tảng số, cụ thể: Sóng Phát thanh: 500 tin, bài, phóng sự, phản ánh; Sóng Truyền hình: 1.000 tin, bài, phóng sự, phản ánh; 24 số Chuyên mục “Xây dựng Nông thôn mới”. Lồng ghép tuyên truyền trong các Chuyên mục: Bạn của nhà nông; Nông nghiệp sạch cho cộng đồng; Xây dựng nông thôn mới và đô thị văn minh; Lao động và Công đoàn…; Có khoảng 300 tin, bài của các đơn vị Đài huyện, thị xã, thành phố gửi về Đài Phát thanh và Truyền hình Quảng Bình. Văn phòng Điều phối tỉnh cung cấp 20 pa nô áp phích cỡ lớn, cấp phát 6.675 cuốn cẩm nang về Bộ tiêu chí và các văn bản hướng dẫn thực hiện chương trình giai đoạn 2021 – 2025. Cập nhật tin tức, kết quả, văn bản, quy định, hướng dẫn về xây dựng NTM trên Cổng thông tin điện tử Chương trình MTQG xây dựng NTM tỉnh Quảng Bình.
Tuyên truyền chương trình OCOP qua chương trình “Điểm hẹn OCOP” phát sóng trên Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh vào thứ 7 hàng tuần; thực hiện lồng ghép thông qua các chuyên mục của chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới, tổ chức các hội nghị triển khai ở cấp huyện, các cuộc họp ở xã, thôn, biên soạn file ghi âm tuyên truyền về Chương trình OCOP để phát trên hệ thống loa truyền thanh của các xã.
2.2. Công tác đào tạo, tập huấn: Trong năm 2022, toàn tỉnh đã tổ chức 51 lớp tập huấn cho 2.785 học viên, cụ thể:
- Cấp tỉnh: Đã tổ chức 06 lớp tập huấn cho 141/257 học viên, đạt 54,8%.
- Cấp huyện: 06/8 Huyện, Thị xã, TP đã triển khai tập huấn với 45 lớp, 2.644 học viên. Còn 02 huyện Quảng Ninh, Tuyên Hoá chưa triển khai.
3. Thành lập, kiện toàn bộ máy chỉ đạo thực hiện Chương trình
Đã kiện toàn Ban chỉ đạo các Chương trình MTQG tỉnh giai đoạn 2021 – 2025 tại Quyết định số 1044/QĐ-UBND ngày 22/4/2022, trong đó, Sở Kế hoạch và Đầu tư là cơ quan thường trực của BCĐ, Sở Nông nghiệp và PTNT, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội và Ban Dân tộc là cơ quan chủ trì các chương trình mục tiêu quốc gia; Kiện toàn Văn phòng Điều phối Chương trình MTQG xây dựng Nông thôn mới tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2021 – 2025 tại Quyết định số 1227/QĐ-UBND ngày 16/5/2022. Sở Nông nghiệp và PTNT đã thành lập Tổ công tác Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2021 – 2025 (Quyết định số 591/QĐ-SNN ngày 09/8/2022).
Cấp huyện cũng đã kiện toàn Ban chỉ đạo, Văn phòng Điều phối giai đoạn 2021 – 2025. Tổng số thành viên Ban chỉ đạo cấp huyện là 308 người; tổng số thành viên VPĐP là 50 người (trong đó: 6 chuyên trách, 44 kiêm nhiệm).
II. KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÁC CHƯƠNG TRÌNH CHUYÊN ĐỀ
Giai đoạn 2021 – 2025, Có 6 Chương trình chuyên đề được triển khai, gồm: Chương trình Mỗi xã một sản phẩm (OCOP); Chương trình chuyển đổi số trong xây dựng Nông thôn mới, hướng tới Nông thôn mới thông minh; Chương trình tăng cường bảo vệ môi trường, an toàn thực phẩm và cấp nước sạch nông thôn; Chương trình phát triển du lịch nông thôn trong xây dựng NTM; Chương trình khoa học và công nghệ phục vụ xây dựng Nông thôn mới; Chương trình nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện tiêu chí an ninh, trật tự trong xây dựng Nông thôn mới. Hiện nay, đã triển khai 03 chương trình, gồm:
- Chương trình phát triển du lịch nông thôn: UBND tỉnh đã đăng ký 02 mô hình: Làng văn hoá du lịch Cự Nẫm và Làng văn hoá du lịch Cảnh Dương.
- Chương trình Mỗi xã một sản phẩm (OCOP): Chương trình OCOP được quan tâm chỉ đạo triển khai quyết liệt, toàn tỉnh có 94 sản phẩm OCOP đạt cấp tỉnh, trong đó: 05 sản phẩm đạt 4 sao; 89 sản phẩm đạt 3 sao; có 63 chủ thể kinh tế có sản phẩm OCOP được công nhận (gồm 38 hợp tác xã, chiếm 60,3%; 14 doanh nghiệp, chiếm 22,2%; 11 hộ kinh doanh cá thể, chiếm 17,5%). Năm 2022, có 60 sản phẩm OCOP tham gia đánh giá, phân hạng sản phẩm OCOP cấp tỉnh, dự kiến đánh giá, phân hạng trong tháng 02/2023.
- Chương trình Khoa học và công nghệ phục vụ xây dựng Nông thôn mới: UBND tỉnh đã đăng ký 04 dự án (Công văn số 2511/UBND-KT ngày 30/12/2022) . Hiện nay, đang chờ Bộ Nông nghiệp và PTNT phê duyệt để triển khai thực hiện.
- 03 Chương trình chuyên đề còn lại đang tham mưu xây dựng Kế hoạch triển khai thực hiện trình UBND tỉnh phê duyệt.
III. KẾT QUẢ THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH
1. Kết quả thực hiện các Bộ tiêu chí xây dựng NTM tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2021-2025
a) Về quy hoạch: Có 116 xã hoàn thành tiêu chí về Quy hoạch, đạt 90,6% (giảm 9,4% so với cuối năm 2021, do một số xã đã hết thời hạn quy hoạch theo quy định, chưa có Quyết định điều chỉnh/quy hoạch mới).
b) Về hạ tầng kinh tế - xã hội: Trong 8 tiêu chí nhóm hạ tầng kinh tế - xã hội, có 05 tiêu chí giảm (giảm từ 1,6% - 7,8% số xã); 02 tiêu chí tăng và 01 tiêu chí không thay đổi, cụ thể:
- Có 96 xã (75,0%) đạt tiêu chí Giao thông (giảm 7,8% so với cuối năm 2021);
- Có 122 xã (95,3%) đạt tiêu chí Thủy lợi và phòng, chống thiên tai (tăng 0,8% so với cuối năm 2021);
- Có 124 xã (96,9%) đạt tiêu chí Điện (giảm 1,6% so với cuối năm 2021);
- Có 92 xã (71,9%) đạt tiêu chí Trường học (giảm 3,9% so với cuối năm 2021);
- Có 104 xã (81,3%) đạt tiêu chí Cơ sở vật chất văn hóa (giảm 6,3% so với cuối năm 2021);
- Có 119 xã (93,0%) đạt tiêu chí Cơ sở hạ tầng thương mại nông thôn (tăng 0,8% so với cuối năm 2021);
- Có 115 xã (89,8%) đạt tiêu chí Thông tin và Truyền thông (giảm 7,8% so với cuối năm 2021);
- Có 115 xã (89,8%) đạt tiêu chí về Nhà ở dân cư (không thay đổi so với cuối năm 2021);
c) Về kinh tế và tổ chức sản xuất: Cả 04 tiêu chí nhóm kinh tế và tổ chức sản xuất đều bị sụt giảm, trong đó sụt giảm nhiều nhất là tiêu chí Tổ chức sản xuất và PTKTNT (35,9%) do các xã không đạt nội dung 13.2 và 13.3 , cụ thể:
- Có 95 xã (74,2%) đạt tiêu chí về Thu nhập (giảm 0,8% so với cuối năm 2021);
- Có 96 xã (75,0%) đạt tiêu chí về Nghèo đa chiều (giảm 5,5% so với cuối năm 2021);
- Có 116 xã (90,6%) đạt tiêu chí về Lao động (giảm 6,3% so với cuối năm 2021);
- Có 71 xã (55,5%) đạt tiêu chí Tổ chức sản xuất và PTKTNT (giảm 35,9% so với cuối năm 2021).
d) Về văn hóa - xã hội - môi trường: Trong 04 tiêu chí nhóm Văn hoá – xã hội – môi trường, có 01 tiêu chí tăng, 03 tiêu chí giảm. Sụt giảm nhiều nhất là tiêu chí Y tế (giảm 39,8%) do khó khăn trong thực hiện nội dung “Tỷ lệ dân số có sổ khám chữa bệnh điện tử”, cụ thể:
- Có 125 xã (97,7%) đạt tiêu chí Giáo dục và Đào tạo (tăng 6,3% so với cuối năm 2021);
- Có 71 xã (55,5%) đạt tiêu chí về Y tế (giảm 39,8% so với cuối năm 2021);
- Có 117 xã (91,4%) đạt tiêu chí về Văn hóa (giảm 3,1% so với cuối năm 2021);
- Có 82 xã (64,1%) đạt tiêu chí về Môi trường và An toàn thực phẩm (giảm 22,7% so với cuối năm 2021).
đ) Về hệ thống chính trị: Trong 02 tiêu chí nhóm Hệ thống chính trị có 01 tiêu chí tăng, 01 tiêu chí giảm, cụ thể:
- Có 118 xã (92,2%) đạt tiêu chí về Hệ thống chính trị và tiếp cận pháp luật (tăng 2,3% so với cuối năm 2021);
- Có 123 xã (96,1%) đạt tiêu chí về Quốc phòng và An ninh (giảm 1,6% so với cuối năm 2021).
Như vậy, trong 19 tiêu chí, có 14 tiêu chí có số xã đạt chuẩn giảm, 04 tiêu chí có số xã đạt chuẩn tăng và 01 tiêu chí không thay đổi.
2. Kết quả thực hiện các mục tiêu xây dựng nông thôn mới năm 2022
a. Cấp xã: Bình quân tiêu chí/xã đạt 15,8 tiêu chí, giảm 1,4 tiêu chí so với năm 2021 (do Bộ tiêu chí mới có nhiều nội dung, chỉ tiêu khó nên các xã chưa đáp ứng kịp).
* Đối với xã đạt chuẩn nông thôn mới: Năm 2022, có 5 xã (Quảng Thạch, Cao Quảng, Tân Hóa, Mỹ Trạch, Yên Hóa) phấn đấu NTM, trong đó: Có 3 xã đã nộp hồ sơ về VPĐP Nông thôn mới tỉnh để thẩm định, gồm: xã Cao Quảng, Quảng Thạch, Mỹ Trạch, còn 2 xã (Yên Hóa, Tân Hoá) không thể về đích NTM trong năm 2022 do còn nhiều tiêu chí chưa đạt, cụ thể: Xã Yên Hoá còn 7 tiêu chí; xã Tân Hoá còn 01 tiêu chí – Tỷ lệ nghèo đa chiều 20,4% . Hiện nay, Văn phòng Điều phối đang tổng hợp hồ sơ họp Hội đồng thẩm định 03 xã. Nếu 03 xã đủ điều kiện đạt chuẩn thì tổng số xã đạt NTM là 88 xã, đạt 68,8%.
Phân loại theo nhóm xã: Sau khi rà soát theo Bộ tiêu chí mới, số xã theo từng nhóm có nhiều thay đổi
- Số xã đạt 19 tiêu chí: 32 xã, chiếm 25% tổng số xã (Gồm: 29 xã đã đạt chuẩn giai đoạn 2010 - 2020 đáp ứng theo Bộ tiêu chí mới và 03 xã đăng ký đạt chuẩn NTM năm 2022), giảm 54 xã do chưa đáp ứng Bộ tiêu chí mới (trong đó: giảm 57 xã do chưa đáp ứng Bộ tiêu chí mới và tăng 03 xã đăng ký đạt chuẩn năm 2022) .
- Số xã đạt từ 15-18 tiêu chí: 63 xã, chiếm 49,2%, tăng 43 xã so với năm 2021.
- Số xã đạt 10-14 tiêu chí: 24 xã, chiếm 18,8%, tăng 11 xã so với năm 2021.
- Số xã đạt 5-9 tiêu chí: 08 xã, chiếm 6,3%, giảm 01 xã so với năm 2021.
- Số xã dưới 5 tiêu chí: 01 xã, chiếm 0,8%, tăng 01 xã so với năm 2021.
* Đối với xã nông thôn mới nâng cao: Có 19 xã phấn đấu đạt NTM nâng cao, gồm: Huyện Lệ Thủy 02 xã (Tân Thủy, Phong Thủy); Huyện Quảng Ninh 06 xã (Võ Ninh, Vĩnh Ninh, Xuân Ninh, Hải Ninh, Duy Ninh, Hàm Ninh); TP. Đồng Hới 05 xã (Quang Phú, Thuận Đức, Đức Ninh, Nghĩa Ninh, Lộc Ninh); Huyện Bố Trạch 03 xã (Thanh Trạch, Bắc Trạch, Đại Trạch); Huyện Tuyên Hóa 02 xã (Mai Hóa, Châu Hóa), TX. Ba Đồn 01 xã (Quảng Hải). Hiện nay, chỉ có xã Quảng Hải – Thị xã Ba Đồn nộp hồ sơ về VPĐP để thẩm định xét công nhận.
* Đối với xã nông thôn mới kiểu mẫu: Có 03 xã phấn đấu đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu, gồm: Xã Lương Ninh - huyện Quảng Ninh; Xã Xuân Thủy - huyện Lệ Thủy; Xã Bảo Ninh - TP. Đồng Hới. Đến nay, chưa có xã nào nộp hồ sơ.
b. Cấp huyện: Hiện nay Thị xã Ba Đồn và TP. Đồng Hới đang rà soát, hoàn thiện lại hồ sơ đề nghị xét, công nhận cấp huyện hoàn thành nhiệm vụ xây dựng NTM theo các quy định của giai đoạn 2021 - 2025.
3. Kết quả thực hiện Bộ tiêu chí Khu dân cư nông thôn mới kiểu mẫu, vườn mẫu nông thôn mới và Thôn, bản đạt chuẩn NTM tại các xã ĐBKK.
Toàn tỉnh có 36 khu dân cư nông thôn mới kiểu mẫu , tăng 10 KDC so với năm 2021; 44 vườn mẫu , tăng 10 vườn so với năm 2021 và 02 thôn, bản đạt chuẩn nông thôn mới tại các xã đặc biệt khó khăn, gồm thôn Long Sơn, thôn Liên Xuân – xã Trường Sơn, không thay đổi so với năm 2021. Hiện nay, một số huyện đang tiếp tục thẩm định các vườn, khu dân cư và thôn bản đăng ký năm 2022.
4. Kết quả huy động, phân bổ và sử dụng nguồn lực
Tổng nguồn vốn huy động là 18.420,4 tỷ đồng. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước: 1.325,2 tỷ đồng, chiếm 7,2% (Vốn trực tiếp cho Chương trình là 1.017,9 tỷ đồng; vốn lồng ghép 307,3 tỷ đồng); Vốn tín dụng: 16.876,0 tỷ đồng, chiếm 91,6%; Vốn doanh nghiệp: 13,7 tỷ đồng, chiếm 0,1%; Đóng góp của cộng đồng dân cư: 205,5 tỷ đồng, chiếm 1,1%.
IV. ĐÁNH GIÁ CHUNG
1. Những kết quả nổi bật đã đạt được
- Hệ thống cơ chế, chính sách và văn bản hướng dẫn thực hiện Chương trình cơ bản đầy đủ; kế hoạch vốn đầu tư công trung hạn giai đoạn 2021-2025 đã được giao cụ thể cho các địa phương. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng giúp các địa phương thuận lợi hơn trong tổ chức triển khai, thực hiện, cũng như có căn cứ để xây dựng, ban hành những cơ chế, chính sách phù hợp với điều kiện thực tế trên địa bàn theo quy định.
- Công tác chỉ đạo thực hiện Chương trình được cấp uỷ, chính quyền các cấp quan tâm. Ngay sau các Hội nghị trực tuyến của Trung ương, Uỷ ban nhân dân tỉnh đã tổ chức Hội nghị trực tuyến hướng dẫn tổ chức thực hiện 03 chương trình mục tiêu quốc gia nhằm tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc và định hướng, chỉ đạo các địa phương tập trung triển khai, thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm của Chương trình. Công tác phối hợp triển khai giữa cơ quan chủ trì Chương trình với các sở, ngành và địa phương ngày càng chặt chẽ, hiệu quả, góp phần hoàn thành các nhiệm vụ được Ban Chỉ đạo tỉnh giao thực hiện trong năm 2022.
- Công tác tuyên truyền, truyền thông về NTM tiếp tục được chú trọng và phát huy hiệu quả, tập trung vào những nội dung trọng tâm của Chương trình, góp phần nâng cao nhận thức của cán bộ các cấp và người dân. Phong trào “Cả nước chung sức xây dựng NTM” đã thực sự đi vào cuộc sống, thu hút được người dân và cộng đồng tham gia vào xây dựng NTM, nhất là những vấn đề thiết thực, tác động trực tiếp đến cải thiện chất lượng sống và điều kiện sinh hoạt ở nông thôn.
- Với sự nỗ lực, quyết tâm của cả hệ thống chính trị và người dân, kinh nghiệm hơn 10 năm triển khai Chương trình, các địa phương đã chủ động hơn trong thực hiện các nhiệm vụ được giao, nhất là cụ thể hóa các quy định, cơ chế, chính sách của Trung ương, tỉnh để triển khai ở cơ sở; chủ động rà soát, xây dựng kế hoạch thực hiện giai đoạn 2021 – 2025 và hàng năm.
2. Những hạn chế, tồn tại chủ yếu và nguyên nhân
a. Tồn tại, hạn chế
- Hệ thống văn bản pháp lý, văn bản hướng dẫn thực hiện Chương trình ban hành chậm nên ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện chương trình, đặc biệt là các xã phấn đấu đạt chuẩn trong năm.
- Mục tiêu số xã đạt chuẩn NTM nâng cao, NTM kiểu mẫu không đạt kế hoạch đề ra. Do các xã chưa đáp ứng kịp Bộ tiêu chí giai đoạn 2021 – 2025, đặc biệt là nội dung tiêu chí “Tỷ lệ sử dụng hình thức hỏa táng” (≥5%). Đây là tiêu chí cứng của Trung ương, tuy nhiên, tỉnh ta chưa có cơ sở hỏa táng, phong tục của người dân cũng chưa quen với việc hỏa táng mà chủ yếu thực hiện hình thức địa táng nên khó đáp ứng được nội dung này.
- Cơ sở hạ tầng nhất là đường giao thông, kênh mương thủy lợi, cơ sở vật chất văn hóa, trường học còn nhiều khó khăn, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển. Công tác quản lý, duy tu, bảo dưỡng chưa được quan tâm đúng mức dẫn đến một số công trình có dấu hiệu hư hỏng, xuống cấp.
- Một số tiêu chí đã đạt nhưng ở mức tiệm cận nên tính bền vững chưa cao, ảnh hưởng không nhỏ đến việc giữ vững và nâng cao chất lượng tiêu chí. Sau khi rà soát theo Bộ tiêu chí giai đoạn 2021 – 2025, có hơn 60% số xã đã đạt chuẩn giai đoạn trước không đáp ứng yêu cầu Bộ tiêu chí mới.
- Hầu hết các xã trên địa bàn tỉnh phấn đấu về đích giai đoạn 2021 – 2025 đều là những xã khó khăn, có điều kiện tự nhiên không thuận lợi, khó thu hút đầu tư phát triển sản xuất dẫn đến thu nhập bình quân đầu người, đời sống của người dân không cao, khó huy động được nguồn lực xã hội hóa.
- Vẫn còn có tình trạng ô nhiễm môi trường cục bộ, ô nhiễm môi trường ở khu dân cư, nơi công cộng chưa được giải quyết triệt để.
- Tình hình an ninh trật tự ở một số địa bàn còn tiềm ẩn phức tạp, nên tiêu chí Quốc phòng An ninh thiếu bền vững. Công tác nắm tình hình ở cơ sở có lúc chưa kịp thời, việc tham mưu cho cấp uỷ, chính quyền giải quyết các vụ việc liên quan đến ANTT nông thôn có lúc còn bị động nên hiệu quả chưa cao, ảnh hưởng đến mục tiêu xây dựng nông thôn mới.
- Chế độ báo cáo ở một số xã và một số phòng ban được phân công thực hiện các tiêu chí xây dựng NTM chưa nghiêm túc, còn thụ động, đối phó, ảnh hưởng đến công tác chỉ đạo điều hành của huyện và của tỉnh.
b. Nguyên nhân
* Nguyên nhân khách quan
- Chương trình xây dựng nông thôn mới có nhiều nội dung toàn diện, tổng hợp và thực hiện trong thời gian dài nhưng lực lượng cán bộ ở cơ sở còn hạn chế chưa đáp ứng được yêu cầu. Cán bộ thực hiện Chương trình đều kiêm nhiệm, lại có sự luân chuyển công tác nên công tác tham mưu đôi lúc chưa kịp thời, hiệu quả..
- Bộ tiêu chí giai đoạn 2021 – 2025 và các văn bản hướng dẫn của Bộ, ngành ban hành chậm. Một số tiêu chí ban hành các quy định, chỉ tiêu mới hoặc mức đạt chuẩn thay đổi theo từng năm (tiêu chí thu nhập) nên nhiều xã không đáp ứng kịp, ảnh hưởng đến tính bền vững trong nông thôn mới, cụ thể:
* Việc thực hiện một số nội dung của Bộ tiêu chí xã nông thôn mới theo Quyết định 1667/QĐ-UBND ngày 21/6/2022 của UBND tỉnh còn gặp khó khăn:
+ Nội dung 17.1 “Tỷ lệ hộ được sử dụng nước sạch theo quy chuẩn ≥45% (trong đó ≥20% từ hệ thống cấp nước tập trung)”: Yêu cầu tỷ lệ nước sạch từ hệ thống cấp nước tập trung vì vậy các xã cần đầu tư nguồn kinh phí lớn để xây dựng hệ thống cấp nước.
+ Tiêu chí Nghèo đa chiều: Những xã phấn đấu về đích NTM giai đoạn 2021-2025 đa số có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hơn các xã của các giai đoạn trước, trong khi cách tính chuẩn nghèo đa chiều cho giai đoạn 2021-2025 lại thay đổi (tỷ lệ nghèo đa chiều được xác định bằng tổng tỷ lệ hộ nghèo và hộ cận nghèo đa chiều theo tiêu chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022-2025 trừ số hộ nghèo, hộ cận nghèo đa chiều không có khả năng lao động) nên tỷ lệ nghèo đa chiều các xã tăng, các xã gặp khó khăn trong việc xây dựng kế hoạch giảm nghèo của xã.
* Việc thực hiện một số nội dung của Bộ tiêu chí xã nông thôn mới nâng cao theo quyết định số 2379/QĐ-UBND ngày 05/9/2022 của UBND tỉnh Quảng Bình còn gặp khó khăn như:
+ Nội dung 5.1 “Tỷ lệ trường học các cấp (mầm non, tiểu học, THCS, hoặc trường phổ thông có nhiều cấp học có cấp học cao nhất là THCS) đạt tiêu chuẩn cơ sở vật chất mức độ 1 và có ít nhất 01 trường đạt tiêu chuẩn cơ sở vật chất mức độ 2”: Yêu cầu trường đạt tiêu chuẩn cơ sở vật chất mức độ 2 theo quy định tại Thông tư số 13/2020/TT-BGDĐT ngày 26/5/2020 của Bộ Giáo dục và Đào tạo cần nguồn kinh phí lớn, dẫn đến khó khăn trong quá trình thực hiện.
+ Nội dung 6.1 - “Xã có nhà văn hóa hoặc hội trường đa năng và sân thể thao phục vụ sinh hoạt văn hóa, thể thao của toàn xã” yêu cầu “Trung tâm văn hóa – Thể thao xã được đầu tư riêng biệt ngoài khu hành chính của xã…” dẫn đến khó khăn trong quá trình thực hiện.
+ Nội dung 13.6 - Vùng nguyên liệu tập trung đối với nông sản chủ lực của xã được cấp mã vùng: Nội dung này nên áp dụng cho các vùng trồng, trang trại có các loại cây trồng có diện tích lớn phục vụ xuất khẩu nhằm theo dõi, khảo sát tình hình và cấp chứng chỉ truy xuất nguồn gốc sản phẩm.
+ Nội dung 17.10 - Tỷ lệ sử dụng hình thức hỏa táng >5% chưa phù hợp với các địa phương trên địa bàn tỉnh.
- Nguồn vốn đầu tư cho Chương trình còn thấp, khả năng đóng góp của nhân dân hạn chế trong khi nhu cầu đầu tư về giao thông nông thôn, kiên cố hóa kênh mương, xây dựng cơ sở vật chất và thiết bị dạy học đạt chuẩn, hệ thống trạm y tế…còn rất lớn.
- Diễn biến thiên tai, dịch bệnh ngày càng phức tạp, gây thiệt hại về tài sản, con người và ảnh hưởng nặng nề đến đời sống sinh hoạt, sản xuất của người dân, qua đó, đã ảnh hưởng trực tiếp đến việc duy trì các tiêu chí về hạ tầng kinh tế - xã hội, thu nhập, hộ nghèo, môi trường...
* Nguyên nhân chủ quan
- Một số cấp ủy, chính quyền chưa thực sự tập trung trong lãnh đạo, chỉ đạo, huy động cả hệ thống chính trị và toàn xã hội chung sức xây dựng nông thôn mới; chưa thể hiện quyết tâm chính trị cao trong việc đặt ra mục tiêu, còn lúng túng trong tổ chức thực hiện.
- Mặc dù tỉnh đã có nhiều cơ chế, chính sách thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, tuy nhiên vẫn chưa có nhiều doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư, nguồn lực đóng góp cho Chương trình nông thôn mới còn hạn chế.
- Các tiêu chí đạt được hầu hết đều ở mức tối thiểu theo quy định, trong khi nguồn lực còn hạn chế nên việc duy trì và nâng cao chất lượng các tiêu chí nông thôn mới còn khó khăn, chưa có giải pháp bền vững.
- Cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển sản xuất và nguồn vốn đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn, tuy đã được tăng cường đáng kể, nhưng chưa đáp ứng yêu cầu phát triển sản xuất. Phát triển thị trường tiêu thụ nông sản còn nhiều bất cập, khó khăn.
- Do có sự thay đổi cán bộ nông thôn mới ở cơ sở nên việc nắm bắt thông tin chưa được xuyên suốt, làm ảnh hưởng đến chất lượng và tiến độ báo cáo.
Phần thứ hai
PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ NĂM 2023
I. MỤC TIÊU
- Phấn đấu năm 2023, có thêm ít nhất 07 xã đạt chuẩn nông thôn mới , 12 xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao ; 01 xã đạt chuẩn NTM kiểu mẫu (Xã Bảo Ninh – TP. Đồng Hới); 14 thôn bản đạt chuẩn NTM ; 37 khu dân cư NTM kiểu mẫu ; 87 vườn mẫu nông thôn mới .
- Tăng bình quân 0,5 – 1 tiêu chí/xã
- Tiếp tục giữ vững và nâng cao chất lượng các tiêu chí. Quan tâm chỉ đạo các xã đã đạt chuẩn nông thôn mới nhưng chưa đáp ứng yêu cầu Bộ tiêu chí mới.
- Tập trung thực hiện hiệu quả các Chương trình, đề án của Trung ương.
II. CÁC NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM VÀ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN
1. Công tác chỉ đạo Chương trình
- Tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo và quyết tâm chính trị của các cấp ủy, chính quyền địa phương và thủ trưởng các cơ quan, đơn vị trong việc tổ chức thực hiện chương trình NTM.
- Nghiên cứu, rà soát, hoàn thiện hệ thống cơ chế chính sách hỗ trợ xây dựng NTM, đảm bảo phù hợp với điều kiện thực tế; chỉ đạo các địa phương chủ động nghiên cứu, ban hành các cơ chế, chính sách đặc thù hỗ trợ thực hiện các nội dung của Chương trình theo hướng nâng cao chất lượng, đi vào chiều sâu và bền vững.
- Nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác phối hợp giữa các sở ngành và địa phương trong công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành, triển khai thực hiện Chương trình; đặc biệt là hoàn thành các nhiệm vụ đề ra trong năm 2023 đảm bảo chất lượng, hiệu quả, đúng tiến độ.
- UBND các huyện, thị xã, TP hướng dẫn, kiểm tra các xã trong việc triển khai thực hiện Chương trình, nhất là việc huy động, phân bổ, sử dụng các nguồn vốn thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới; việc triển khai thực hiện cơ chế đặc thù trong xây dựng nông thôn mới.
- UBND tỉnh đã có công văn phân công sở ngành chỉ đạo các xã năm 2023, UBND các huyện, thị, xã, thành phố và các sở, ngành được phân công phụ trách cần khẩn trương làm việc với các xã để nắm bắt tình hình, xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện. Đồng thời, các sở ngành cần chỉ đạo, hướng dẫn các xã có tiêu chí bị sụt giảm do sở, ngành mình phụ trách. Ưu tiên phê duyệt các thủ tục liên quan để các xã sớm về đích theo mục tiêu đề ra.
2. Công tác tuyên truyền, đào tạo tập huấn
- Đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền, thống nhất nhận thức, thay đổi tư duy cho cán bộ và người dân về thực hiện xây dựng nông thôn mới gắn với thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp, kinh tế nông thôn; nâng cao chất lượng các phong trào thi đua xây dựng NTM, phong trào“Cả nước chung sức xây dựng NTM” giai đoạn 2021-2025 ngày càng đi vào chiều sâu, tạo sự lan tỏa rộng lớn trong cả hệ thống chính trị và mọi tầng lớp nhân dân, nhất là cư dân ở nông thôn.
- Tiếp tục triển khai công tác đào tạo tập huấn theo Kế hoạch Tập huấn, bồi dưỡng cán bộ xây dựng nông thôn mới các cấp giai đoạn 2022 - 2025 đã được Ban chỉ đạo các Chương trình MTQG tỉnh ban hành tại Kế hoạch số 230/KH-BCĐ ngày 29/11/2022.
3. Tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả các tiêu chí nông thôn mới, từng địa phương phải xác định rõ các tiêu chí trọng tâm để tập trung chỉ đạo, nhất là các tiêu chí về đời sống người dân, môi trường, văn hoá và an ninh trật tự
Đối với 06 tiêu chí giảm mạnh (từ 10 xã trở lên), gồm: Quy hoạch, Giao thông, Thông tin và Truyền thông, Tổ chức sản xuất và PTKTNT, Y tế, Môi trường và ATTP đề nghị:
- Các sở, ngành rà soát lại các cơ chế, chính sách đã ban hành, nghiên cứu các quy định liên quan để tham mưu UBND tỉnh sửa đổi, bổ sung đảm bảo phù hợp và hiệu quả. Tăng cường trách nhiệm trong thực hiện các tiêu chí có liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của sở, ngành mình, chủ động kiến nghị với Bộ, cơ quan chủ quản hoặc tham mưu UBND tỉnh giải pháp tháo gỡ đối với các tiêu chí khó như nội dung Tỷ lệ dân số có sổ khám chữa bệnh điện tử - Tiêu chí Y tế; Nội dung 13.2, 13.3 - Tiêu chí TCSX và PTKTNT (Bộ tiêu chí xã đạt chuẩn NTM); Nội dung “Tỷ lệ sử dụng hình thức hỏa táng” - Tiêu chí Môi trường (Bộ tiêu chí xã đạt chuẩn NTM nâng cao)…
- UBND các huyện, TX, TP và các xã cần phân công các phòng, ban hướng dẫn xã triển khai thực hiện; kịp thời báo cáo khó khăn, vướng mắc với các sở, ngành phụ trách tiêu chí để tháo gỡ nhằm đảm bảo tiến độ đề ra.
4. Tập trung chỉ đạo theo từng nhóm xã
- Đối với các xã đạt chuẩn cần có kế hoạch, lộ trình cụ thể để giữ vững, nâng cao chất lượng các tiêu chí, hướng tới mục tiêu xã nông thôn mới nâng cao, xã nông thôn mới kiểu mẫu.
- Đối với các xã đạt chuẩn nhưng chưa đáp ứng yêu cầu của Bộ tiêu chí mới cần khẩn trương triển khai kế hoạch thực hiện các tiêu chí bị sụt giảm, chủ động huy động các nguồn lực khác, không có tâm lý trong chờ, ỷ lại vào ngân sách nhà nước. Đồng thời căn cứ văn bản hướng dẫn của các sở, ngành có liên quan để xem xét tính cần thiết đối với các nội dung đề xuất, tránh đầu tư không hiệu quả, lãng phí.
- Đối với các xã phấn đấu đạt chuẩn năm 2023: Phải đảm bảo chất lượng, thực chất, không chạy theo thành tích; chủ động rà soát, đánh giá thực trạng; xây dựng lộ trình, kế hoạch và khẩn trương triển khai các tiêu chí chưa đạt, phối hợp chặt chẽ với sở, ngành được phân công chỉ đạo để triển khai theo đúng kế hoạch đề ra; đối với hạng mục có khối lượng công việc lớn, thời gian thi công dài cần khẩn trương triển khai sớm. Riêng xã Yên Hoá, Tân Hoá: Cấp ủy, chính quyền huyện Minh Hóa, xã Yên Hoá, Tân Hoá và các Sở được giao chỉ đạo phải chịu trách nhiệm trước Chủ tịch UBND tỉnh về kết quả thực hiện của xã.
- Đối với các xã khó khăn, cần tập trung nâng cấp cơ sở hạ tầng thiết yếu và thúc đẩy phát triển sản xuất theo chuỗi giá trị, ưu tiên tập trung đầu tư ở cấp thôn, bản.
5. Tiếp tục đẩy mạnh các giải pháp huy động và đa dạng hóa các nguồn vốn để thực hiện Chương trình
- Thực hiện hiệu quả, đồng bộ các giải pháp huy động nguồn lực, trong đó, huy động tối đa nguồn lực của địa phương (tỉnh, huyện, xã) để tổ chức triển khai Chương trình. Ưu tiên bố trí nguồn vốn NSNN được phân bổ đầu tư cho các địa bàn khó khăn để góp phần thu hẹp khoảng cách trong xây dựng NTM giữa các vùng, miền; thực hiện lồng ghép hiệu quả nguồn vốn của 03 Chương trình mục tiêu quốc gia và các chương trình, dự án khác trên địa bàn nông thôn giai đoạn 2021-2025 để hỗ trợ các địa phương hoàn thành các mục tiêu xây dựng NTM; thực hiện hiệu quả chính sách tín dụng đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn.
- Tích cực giải ngân nguồn vốn được phân bổ năm 2022 và năm 2023.
6. Một số giải pháp trọng tâm khác
- Thực hiện hiệu quả 11 nội dung của Chương trình; 06 chương trình chuyên đề trọng tâm nhằm nâng cao chất lượng đời sống của người dân nông thôn và giải quyết các vấn đề bức xúc, tồn tại trong xây dựng NTM (môi trường, an toàn thực phẩm, nước sạch nông thôn, phát triển kinh tế nông thôn, nâng cao hiệu quả hoạt động của các HTX, hỗ trợ các doanh nghiệp, hợp tác xã khởi nghiệp, sáng tạo, thực hiện Chương trình OCOP; chuyển đổi số trong xây dựng NTM, phát triển du lịch nông thôn…).
- Tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát, đánh giá việc thực hiện Chương trình ở các cấp, các ngành. Kịp thời khen thưởng những tổ chức, cá nhân làm tốt, đồng thời có biện pháp phòng ngừa, kịp thời ngăn chặn các biểu hiện tiêu cực, lãng phí, xử lý nghiêm các vi phạm trong quá trình thực hiện Chương trình./.
Nguồn: Báo cáo số 33/BC-BCĐ ngày 01/3/2023
- Tập huấn, bồi dưỡng cán bộ xây dựng nông thôn mới các cấp thuộc Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2022 - 2025 (08/12/2022)
- Kết luận của đồng chí Phó Chủ tịch thường trực UBND tỉnh Đoàn Ngọc Lâm tại buổi kiểm tra tình hình thực hiện Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới và Chương trình OCOP trên địa bàn huyện Quảng Trạch (09/11/2022)
- Quyết đinh về việc ban hành Bộ tiêu chí Khu dân cư nông thôn mới kiểu mẫu trên địa bàn tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2022 - 2025 (19/10/2022)
- Quyết đinh về việc ban hành Bộ tiêu chí xây dựng vườn mẫu nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2022 - 2025 (19/10/2022)
- Quyết định về việc ban hành Bộ tiêu chí xã nông thôn mới kiểu mẫu trên địa bàn tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2021 - 2025 (13/09/2022)
- Quyết định ban hành Bộ tiêu chí thôn, bản đạt chuẩn nông thôn mới tại các xã đặc biệt khó khăn trên địa bàn tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2022-2025 (09/09/2022)
- Kế hoạch tổ chức thực hiện phong trào thi đua “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới" tỉnh Quảng Bình Giai đoạn 2021 - 2025 (17/06/2022)
- Tập trung thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới 06 tháng cuối năm 2021 (30/07/2021)
- Ban hành hướng dẫn thực hiện, đánh giá kết quả các tiêu chí xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao, nông thôn mới kiểu mẫu (03/09/2020)
- Kết luận của đồng chí Chủ tịch UBND tỉnh Trần Công Thuật, Trưởng Ban chỉ đạo các Chương trình MTQG tỉnh giai đoạn 2016 - 2020 tại cuộc họp tổng kết chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới năm 2019, triển khai kế hoạch năm 2020 (10/03/2020)







