Chi tiết tin - Quảng Bình
Điều làm nên sự vĩ đại ở Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh (Ảnh tư liệu)
1. Người kết tinh hồn thời đại, làm thăng hoa dân tộc Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại
Năm 2015, chúng ta kỷ niệm lần thứ 125 Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Bản Di chúc 1.000 từ của Người mà Người khiêm nhường chỉ gọi là bức thư, là mấy lời để lại cho đồng bào, đồng chí, đến nay đã tròn một nửa thế kỷ, kể từ lần đầu tiên Người viết vào dịp 75 tuổi, tháng 5/1965.
Đảng Cộng sản Việt Nam do Người sáng lập đã trải qua 85 năm lịch sử. Người đã vận dụng sáng tạo học thuyết Đảng kiểu mới của Lênin vào thực tiễn xây dựng Đảng, rèn luyện Đảng ta thành một Đảng cách mạng chân chính, không chỉ là đội tiên phong của giai cấp công nhân mà còn là đội tiên phong của dân tộc và nhân dân lao động. Một trong những ngọn nguồn làm nên sức mạnh của Đảng, của cách mạng Việt Nam là sự gắn bó máu thịt giữa Đảng với Nhân dân. Đảng vì Dân mà tồn tại và chiến đấu hy sinh nên Nhân dân một lòng tin tưởng vào Đảng, đi theo lý tưởng, mục tiêu mà Đảng đã vạch ra, vì độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Nhân dân tự hào gọi Đảng là Đảng của mình. Khi Đảng còn chưa ra đời, Nguyễn Ái Quốc, tức Hồ Chí Minh sau này đã mẫn cảm và sáng suốt biết bao khi xác định rằng, cách mạng trước hết cần có Đảng và Đảng phải có chủ nghĩa làm cốt. Đảng không có chủ nghĩa như người không có trí khôn. Đảng cách mệnh, người cách mệnh phải giữ chủ nghĩa cho vững. Chủ nghĩa chân chính nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin (Mác - Lênin), trong Đảng ai ai cũng phải tin, phải theo chủ nghĩa ấy. Lại phải ít lòng tham muốn, ham muốn về vật chất. Có như vậy mới đủ bản lĩnh đi đến cùng trong sự nghiệp tranh đấu vì lợi quyền và hạnh phúc của nhân dân. Giác ngộ chủ nghĩa là năng lực trí tuệ và bản lĩnh chính trị của Đảng. Đem sức mạnh của đạo đức cách mạng cần kiệm liêm chính để đánh bại chủ nghĩa cá nhân - giặc nội xâm ở ngay trong lòng mình, ấy là đạo đức, là văn hóa đạo đức, là thực hành đạo làm người của người cách mạng. Trải nghiệm thực tiễn cách mạng phong phú và sâu sắc trong cuộc đời hoạt động, tranh đấu của mình, gắn liền mật thiết với Đảng, với Dân, Người đã nhận rõ “Đảng ta là con nòi của giai cấp công nhân”, “Đảng là một tổ chức cách mạng chiến đấu hy sinh phục vụ giai cấp, dân tộc và nhân loại. Đảng không phải là tổ chức để làm quan phát tài”. Đảng cách mạng chân chính “là đạo đức, là văn minh”, “Chính trị là đoàn kết và thanh khiết, thanh khiết từ việc nhỏ đến việc lớn”, “đảng viên, cán bộ phải nêu cao tính tiền phong gương mẫu để dân tin và dân theo”. “Một tấm gương sống còn quý hơn hàng trăm bài diễn văn”. “Có như vậy, chính trị mới thấm sâu vào đời sống dân gian”.
Những chỉ dẫn thiết thực, giản dị mà sâu sắc như thế của Người đủ cho thấy, Hồ Chí Minh - người sáng lập, rèn luyện Đảng ta, người khai sinh ra nước Việt Nam mới - Dân chủ Cộng hòa với bản “Tuyên ngôn độc lập” bất hủ, áng thiên cổ hùng văn, Tuyên ngôn dựng Nước, lập Quốc trong thời đại mới - Thời đại Hồ Chí Minh, thời đại rực rỡ, huy hoàng nhất trong lịch sử hàng ngàn năm của dân tộc ta đã thực sự mang tầm vóc vĩ đại. Tầm vóc vĩ đại của Hồ Chí Minh in dấu ấn không thể phai mờ trong lịch sử dân tộc ta, cũng đồng thời trong lịch sử thế giới hiện đại, kết hợp nhuần nhuyễn trí tuệ thiên tài, đạo đức cao cả, bản lĩnh chính trị và nghị lực phi thường của người cách mạng chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân đến cùng, thể hiện khát vọng Độc lập - Tự do - Hạnh phúc của Nhân dân, Dân tộc và Nhân loại.
Tầm vóc vĩ đại của Hồ Chí Minh không chỉ là tư tưởng sáng tạo, gắn liền tư tưởng với phương pháp và phong cách mà còn là đạo đức, lẽ sống cao thượng, trọn một đời vì nước, vì Dân, trọn đời tranh đấu, hy sinh và dâng hiến cho cuộc sống của Nhân dân, vì Nhân dân. Sự hy sinh và dâng hiến của Hồ Chí Minh trọn vẹn, toàn vẹn, quên mình đến mức hóa thân, bởi thế, Hồ Chí Minh vĩ đại và cao thượng. Tầm vóc vĩ đại của Hồ Chí Minh là tầm vóc của bậc Đại trí, Đại nhân, Đại dũng. Người là sự kết tinh hồn thời đại và chính Người làm thăng hoa dân tộc Việt Nam, từ truyền thống đến hiện đại.
2. Những bước ngoặt trong cuộc đời và sự nghiệp Hồ Chí Minh - tác động sâu xa tới lịch sử dân tộc thời hiện đại và có sức ảnh hưởng rộng lớn vào đời sống chính trị thế giới đương đại
Nhiều chính khách và học giả nước ngoài đã dành những lời tốt đẹp, cao quý nhất, biểu thị sự ngưỡng mộ và kính trọng nhất để nói về cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh.
Phiđen Cátxtơrô, lãnh tụ Cu Ba và là người bạn lớn của nhân dân Việt Nam đã đánh giá về Người sâu sắc và cảm động: “Đồng chí Hồ Chí Minh thuộc về một lớp người đặc biệt mà cái chết lại gieo mầm cho sự sống đời đời bất diệt”. Thế giới biết đến Người là một trong số những lãnh tụ hiếm hoi ở thế kỷ XX đã trở thành huyền thoại ngay từ khi còn sống. Người mang phẩm chất bác ái, nhân từ, khoan dung, độ lượng của Đức Chúa Jesu, lòng từ bi hỷ xả, vô ngã vị tha của Đức Phật, trí tuệ của Mác - Lênin, đầu óc thiết thực của Tôn Trung Sơn. Người còn mang hình ảnh của Nguyễn Trãi - nhà nhân văn chủ nghĩa vĩ đại của Việt Nam ở thế kỷ XV, mang tâm hồn của Nguyễn Du - đại thi hào dân tộc với kiệt tác Truyện Kiều đã từng được dịch ra rất nhiều thứ tiếng trên thế giới. An dân và khuyến dân trong tư tưởng Nguyễn Trãi cũng như nỗi đau nhân thế từ âm hưởng truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du cũng đã hiển thị một cách đặc sắc trong Di chúc của Người. Vậy là, dường như những gì tinh hoa, ưu tú nhất của thế giới nhân loại và của dân tộc Việt Nam đã hội tụ vào trí tuệ và tư tưởng, đạo đức và tâm hồn Hồ Chí Minh. Con Người viết Hoa ấy, Con Người của lý tưởng Chân - Thiện - Mỹ, rốt cuộc lịch sử đã tìm thấy, đã chứng nghiệm ở Hồ Chí Minh.
Con người ấy đã trải qua một cuộc đời oanh liệt, đầy gian khổ hy sinh, vô cùng cao thượng và phong phú, vô cùng trong sáng và đẹp đẽ, Con người đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta và nhân dân thế giới.
Điều làm nên sự vĩ đại ở Hồ Chí Minh gắn liền với những bước ngoặt trong cuộc đời và sự nghiệp của Người. Những bước ngoặt ấy đã làm thay đổi chiều hướng vận động của lịch sử đất nước, số phận của cả một dân tộc, vị thế và phẩm giá của con người Việt Nam.
Mùa hè năm 1911, người thanh niên trẻ tuổi đầy nhiệt huyết Nguyễn Tất Thành 21 tuổi, rời bến cảng Nhà Rồng, bắt đầu cuộc dấn thân tìm đường cứu nước, cứu dân. Cuộc đi đó kéo dài 30 năm. Qua các châu lục Á - Âu - Phi - Mỹ, qua mọi miền đất lạ hơn 30 nước, bằng con đường “vô sản hóa”, lao động - học tập và tranh đấu để tìm đường, chọn hướng, nhận ra chân lý để rồi trọn đời tận trung với Nước, tận hiếu với Dân, tận hiến cho Dân tộc và Nhân loại. Gần một thập kỷ (1911 - 1920) trong trường đời thực tiễn để Nguyễn Ái Quốc từ một người yêu nước và tinh thần dân tộc trở thành người Cộng sản, suốt đời đấu tranh vì thắng lợi của lý tưởng, mục tiêu Cộng sản chủ nghĩa. Chính trong bước ngoặt đầu tiên này, năm 1919, Nguyễn Ái Quốc đã gửi Tám điều yêu sách của dân tộc Việt Nam tới Hội nghị Véc - xây đòi tự do, độc lập cho nhân dân mình. “Đường cách mệnh” đã nhận ra hình hài từ đó để định hình thành tác phẩm lý luận sau này, đặt nền móng lý luận và phương pháp cho học thuyết giải phóng bằng cách mạng, chuẩn bị trực tiếp về chính trị, tư tưởng, tổ chức cho sự ra đời chính đảng cách mạng kiểu mới ở Việt Nam.
Sự kiện Nguyễn Ái Quốc, từ người dân của một xứ thuộc địa, mất độc lập chủ quyền lại trở thành người đồng sáng lập ra Đảng Cộng sản ở chính quốc, vào tuổi 30 là trường hợp hy hữu của lịch sử. Mác - Ăngghen viết Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản cũng vào tuổi ấy. Khẩu hiệu hành động “Vô sản toàn thế giới liên hiệp lại” do Mác - Ăngghen đề xướng ở cuối Tuyên ngôn được Lênin bổ sung (“các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại”) và được Nguyễn Ái Quốc phát triển, “tất cả mọi người lao động đoàn kết lại”, một sự phát triển với tầm tư tưởng lớn và bằng tư duy độc lập sáng tạo, khoáng đạt. Mười năm sau, vào năm 1930, ở tuổi 40, Nguyễn Ái Quốc sáng lập Đảng ta, là tác giả đầu tiên của bản Cương lĩnh đầu tiên trong lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam. Những bước ngoặt ấy là những bước sinh thành thời đại Hồ Chí Minh ở Việt Nam. Luận cương Lênin về quyền tự quyết của các dân tộc được Nguyễn Ái Quốc tiếp cận và thâu thái (1920) đã góp phần quyết định tới bước ngoặt trong cuộc hành trình tìm đường, nhận đường để chọn đường của Người và “Bản án chế độ thực dân Pháp”, một tác phẩm lý luận chính trị tầm cỡ của Nguyễn Ái Quốc được viết vào năm 1925. Hai mươi năm sau, năm 1945, Hồ Chí Minh khởi thảo và tuyên đọc “Tuyên ngôn độc lập” tại quảng trường Ba Đình lịch sử ở Hà Nội.
Người không chỉ khai sinh ra chế độ dân chủ cộng hòa ở Việt Nam mà còn tuyên bố sự cáo chung của chủ nghĩa thực dân Pháp, đưa dân tộc Việt Nam tới tự do và làm chủ.
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám - một trong những cuộc cách mạng điển hình của thế giới trong thế kỷ XX được dẫn dắt và thực hiện bởi thiên tài Hồ Chí Minh và Đảng do Người sáng lập và rèn luyện.
Ba mươi năm của cuộc hành trình (1911 - 1941) vì Độc lập - Tự do - Hạnh phúc cho dân tộc và nhân dân để dẫn đến giải phóng 20 triệu người Việt Nam và xác lập chính thể dân chủ cộng hòa trong ngày độc lập 02/9/1945. Cũng từ đây, Đảng Cộng sản Việt Nam chính thức trở thành Đảng cầm quyền dưới ngọn cờ tư tưởng Hồ Chí Minh.
Vĩ đại và huyền thoại Hồ Chí Minh còn ở sự kiện bước ngoặt không thể nào quên, 20 năm sau “Tuyên ngôn độc lập” (1965), Người viết bức thư để lại cho đồng bào, đồng chí mà chúng ta gọi là Di chúc. Như đã nói, Văn kiện lịch sử thiêng liêng này, Người viết lần đầu tiên vào tháng 5/1965, ở tuổi 75, để hàng năm Người nghiền ngẫm, suy tư, sửa từng câu, từng chữ và ký thác tất cả vào chúng ta. Người dành cái tối đa cho Dân, cho Nước và cho Đảng. Người chỉ nói về việc riêng đúng 79 từ trong 1.000 từ. Trong cái tối thiểu ấy cũng lại đầy ắp tình thương yêu, sự quan tâm, chăm sóc cho nhân dân, đồng bào của Người. Hạnh phúc của Dân là hoài bão, khát vọng một đời của Người. Đó là sự vĩ đại và cao thượng.
Ngày lập nước cũng lại trùng hợp với ngày Người trở về thế giới người Hiền, 20 năm sau đó (02/9/1969). Khoảnh khắc Người ra đi là một khoảnh khắc thiêng, 9 giờ 47 phút sáng. Giờ ấy, phút ấy Người đã từng viết và sửa Di chúc, đã từng đọc báo, cần mẫn, đều đặn chăm chút, nâng niu những tấm gương người tốt, việc tốt cho đời.
Hai mươi năm sau ngày ra “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” 19/12/1946, lời của Người như lời hịch của non sông, “Thà hy sinh tất cả, quyết không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”, Người lại có lời kêu gọi đồng bào chiến sỹ cả nước chống Mỹ xâm lược (1966) với một thông điệp lịch sử “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Thông điệp ấy cũng là chân lý lớn nhất của lịch sử, là sự lựa chọn đúng đắn nhất mãi mãi tỏa sáng ý chí Việt Nam, nhân cách Việt Nam mà Người là điển hình mẫu mực, trọn vẹn, toàn vẹn nhất. Cuộc đời 79 mùa xuân của Người gắn bó máu thịt với Nhân dân, với đất nước và thời đại, còn có bao nhiêu bước ngoặt như thế nữa. Tất cả đều quy tụ vào “Ái Quốc” và “Ái Dân” - tên của Người, lấp lánh ánh sáng minh triết Hồ Chí Minh, sâu thẳm triết lý nhân sinh và hành động Hồ Chí Minh. Mười năm, hai mươi năm, ba mươi năm có trong những bước ngoặt của Người đã mở ra chân trời, triển vọng rạng rỡ của Việt Nam, mở ra những trang sử mới Việt Nam trong thời đại mang tên Người. Sự hiện diện của Người trong lịch sử đã chấm dứt cuộc khủng hoảng triền miên về đường lối cứu nước của các bậc tiền bối để khai mở “đường cách mệnh” đến nơi, đúng đắn và triệt để. “Cách mệnh là phá cái cũ lỗi thời, xấu xa, hư hỏng, đổi ra cái mới tiến bộ, phát triển và tốt đẹp”. Người là hiện thân của câu trả lời đúng đắn, sáng tạo và triệt để, lại kịp thời, đúng lúc trong thực tiễn lịch sử, chính xác đến kỳ lạ và kỳ diệu trong những tiên tri, dự báo tương lai đến từ sự mẫn tiệp, thông tuệ của thiên tài tư tưởng Hồ Chí Minh, “tầm mắt đại dương” và “tâm hồn lộng gió thời đại” Hồ Chí Minh.
Đem đến câu trả lời đúng đắn cho những hành động quyết định trong khi lịch sử đầy rẫy những sai lầm, lại làm gương mẫu mực thực hành cho mọi người, mọi thế hệ noi theo, “một tấm gương sống còn quý hơn hàng trăm bài diễn văn” - độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, quyết tâm làm cho dân tộc Việt Nam trở thành một dân tộc thông thái, xã hội xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một xã hội văn hóa cao như Người hằng khát vọng - đó là sự vĩ đại, vĩ đại một cách cao thượng của Hồ Chí Minh.
Người sống mãi trong lòng dân và trong trái tim nhân loại là vì vậy.
3. Đạo đức cách mạng trong sáng, lối sống thanh tao, giản dị, bản lĩnh đứng ngoài vòng Danh - Lợi để toàn tâm toàn ý phụng sự và dâng hiến cho Dân, cho nước, cốt cách hiền triết, minh triết làm nên sự vĩ đại Hồ Chí Minh, phong cách và bản sắc Hồ Chí Minh
Hồ Chí Minh vĩ đại trên tư cách nhà tư tưởng mác xít sáng tạo đầy bản lĩnh của cách mạng Việt Nam ở thế kỷ XX. Người đề xướng lý luận chống chủ nghĩa thực dân cũ và mới, ngọn cờ đầu của cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc. Người phát hiện ra tính đặc thù của quy luật thành lập Đảng cách mạng kiểu mới ở Việt Nam. Đảng là sự kết hợp của chủ nghĩa xã hội khoa học với phong trào công nhân và phong trào yêu nước của dân tộc Việt Nam. Người còn phát hiện ra quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam trong thời đại mới, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, chỉ ra tính tất yếu lịch sử của chủ nghĩa xã hội và con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam. Dung dị mà sâu sắc, Người đã viết: Không ai có thể ngăn cản mặt trời mọc thì cũng không một thế lực nào có thể ngăn cản các dân tộc tiến tới Chủ nghĩa xã hội và Chủ nghĩa cộng sản.
Người không chỉ lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đánh thắng “hai đế quốc to” là Pháp và Mỹ mà còn đưa dân tộc ta vào hàng ngũ các dân tộc tiên phong của thời đại cách mạng chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân và suốt đời thực hiện hệ giá trị cốt lõi của phát triển Độc lập - Tự do - Hạnh phúc. Lý luận chủ nghĩa xã hội Việt Nam và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam do Người đặt nền móng. Người còn là nhà cách tân sáng tạo, có tư tưởng đổi mới và hội nhập quốc tế để phát triển từ rất sớm, đặc biệt là dồn nỗ lực và tinh lực của đời mình vào công tác xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh, nhất là khi Đảng đã cầm quyền. “Sửa đổi lối làm việc”, có thể nói là tác phẩm đầu tiên của Người đề cập tới tư tưởng đổi mới trong điều kiện Đảng cầm quyền, được viết vào năm 1947, khi cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược trở lại vừa bắt đầu. Chỉ với chưa đầy 500 từ trong “12 điều xây dựng Đảng cách mạng chân chính”, Người đã làm sáng tỏ chủ thuyết xây dựng Đảng cầm quyền với những điều cốt yếu, hệ trọng nhất từ tư tưởng đến phương pháp và phong cách, từ đạo đức, nhân cách, lối sống của cán bộ, đảng viên đến văn hóa ở trong Đảng. Đảng lãnh đạo và cầm quyền bằng khoa học, dân chủ và đạo đức, phải dựa vào dân mà xây dựng Đảng. Đến Di chúc, Người khẳng định: Đảng ta là một Đảng cầm quyền, chỉ trong một đoạn ngắn mà bốn lần Người nhấn mạnh tới chữ “thật”, nổi bật vấn đề đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân để xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ tận tụy, trung thành của nhân dân. Cao cả và thiêng liêng là lời căn dặn của Người, giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, từ Trung ương tới chi bộ như giữ gìn con ngươi của mắt mình. Thời gian càng lùi xa, thực tiễn càng biến đổi và phát triển, ta càng nhận ra sự sáng suốt, sự tiên liệu đầy mẫn cảm trong tầm nhìn xa trông rộng của Người. Vĩ đại của Hồ Chí Minh còn ở chỗ, Người là nhà tổ chức thiên tài, đặt công tác đào tạo bồi dưỡng, huấn luyện cán bộ ở tầm chiến lược, coi đó là công việc gốc của Đảng. Với phương châm nói ít làm nhiều, lời nói đi đôi với việc làm, Người chú trọng hành động và thực hành. Nhà biện chứng thực hành vĩ đại Hồ Chí Minh đã thường xuyên thức tỉnh chúng ta, phải vì dân, suốt đời “dĩ công vi thượng”, “quang minh chính đại”, “tinh thần đoàn kết” để dân tin, dân phục, dân yêu, dân giúp đỡ, dân ủng hộ, dân bảo vệ thì sự nghiệp mới thành công. Sự nghiệp ấy suy đến cùng cũng chỉ vì dân, làm cho dân được sống trong độc lập, tự do và hạnh phúc, là chủ và làm chủ thực sự.
Đạo đức và thực hành đạo đức là một điều nổi bật, nhất quán, xuyên suốt trong tư tưởng và tấm gương đạo đức của Người, là sự vĩ đại của Người nhìn từ chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh. Người đòi hỏi rất cao về đạo đức cách mạng, đạo làm người của người cách mạng, phải đủ cả bốn đức: Cần kiệm liêm chính, mới là người hoàn toàn, thiếu một đức thì không thành người. Lại chính Người nêu gương thực hành, làm gương mẫu cho đảng viên, cán bộ noi theo. Biết rằng, ở đời “nhân vô thập toàn” nên Người căn dặn phải suốt đời đấu tranh, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, trau dồi đạo đức cách mạng, thấy rõ, cuộc đấu tranh này sẽ có không ít sự đau đớn ở trong lòng. Phải dùng dân chủ mà chữa trị bệnh quan liêu, tham ô, lãng phí, phải thực hành văn hóa để chữa thói phù hoa xa xỉ, phải dùng luật pháp nghiêm trị tất cả những kẻ bất liêm để bảo vệ dân.
Với Hồ Chí Minh, sự vĩ đại còn thể hiện vô cùng chân thực, cảm động, để lại ấn tượng sâu xa tận đáy lòng trong mỗi người dân bởi đức khiêm nhường, tình thương mến, sự ân cần chu đáo, bao dung nhân ái của Người, lối sống giản dị, ứng xử tự nhiên mà tinh tế của Người.
Sinh thời, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng nhận xét rằng, trong trái tim mênh mông tình thương của Người, có chỗ cho tất cả mọi người, mỗi cảnh đời, mỗi số phận. Mỗi gia đình có một nỗi khổ riêng, mỗi con người có một nỗi đau riêng. Cộng tất cả nỗi khổ đau đó lại là nỗi khổ đau của bản thân Người. Miền Nam luôn ở trong trái tim Người. Giữa cơn đau quặn thắt trái tim, Người vẫn hướng tới đồng bào, đồng chí “không thể bỏ dân mà đi được”, lắng nghe tin chiến thắng nơi tiền tuyến, lo lắng cho đời sống của những người nông dân nghèo khổ nơi đê vỡ, lũ lụt tràn về, cũng không quên nhắc nhở ngành giáo dục lo việc trường sở, học hành cho các cháu. Người từ chối chưa nhận huân chương với lời giải thích rằng, đợi miền Nam giải phóng, đồng bào miền Nam thay mặt cả nước, gắn huân chương cho Người cũng chưa muộn. Và đến lúc ra đi, trên ngực áo của Người không một tấm huân chương. Người nói lời cảm động tận đáy lòng “mới chỉ đi đến nơi mà chưa về đến chốn”. Người tự thấy mình chưa xứng đáng để nhận sự tôn vinh. Người sống vì dân và chỉ một lòng một dạ vì dân, chỉ canh cánh một nỗi niềm chưa được tận mắt chứng kiến ngày cách mạng miền Nam toàn thắng. Giản dị là đặc trưng nổi bật cho lối sống và phong cách của Người. Người giản dị chứ không giản đơn. Bởi thực sự vĩ đại, nên giản dị ở Người như một lẽ tự nhiên, như nhiên, hồn nhiên làm lay động mỗi tấm lòng. Đó là giản dị của bậc vĩ nhân, hiền triết. Thực sự vĩ đại nên Người giản dị thực sự, tất cả đều toát lên sự gần gũi thân thương của con người giữa đời thường. Phải trải nghiệm cuộc sống vô cùng phong phú, sâu sắc, thành ra cốt cách, bản lĩnh văn hóa mới đạt tới sự giản dị ấy - lão thực và hiền minh. Đã từng có một danh ngôn: Giản dị là nỗ lực cao nhất và cuối cùng của bậc thiên tài.
Vĩ đại Hồ Chí Minh bởi trước hết, Người là một con người và cuối cùng vẫn là một con người dù Người được tôn vinh, ngưỡng mộ ở bậc Thánh nhưng không siêu thực mà ở trong lòng dân, trong cuộc sống của dân.
Ăngghen đã nói về thời đại Phục Hưng, thời đại khổng lồ sản sinh ra những con người khổng lồ từ trí tuệ đến nhân cách.
Đại văn hào Pháp Víchto Huygô cũng từng ngợi ca những bậc vĩ nhân trong thời đại mình. Họ là những người xứng đáng được tôn vinh, “trước một trí tuệ uyên bác thì tôi cúi đầu bái phục, trước một nhân cách cao cả thì tôi quỳ gối tôn thờ”. Hoàn toàn có thể đem những lời ngợi ca, tôn vinh ấy ứng vào Hồ Chí Minh - Con người Việt Nam đẹp nhất, Con người mà sự nghiệp, di sản, đạo đức và nhân cách đã thuộc về dân tộc và thế giới nhân loại.
Lịch sử luôn tường minh. Chân lý luôn giản dị. Tình thương yêu, niềm xúc động, sự tôn vinh mà cả dân tộc và thế giới dành cho Người, mãi mãi là nguồn cổ vũ, là động lực tinh thần cho phát triển. Cái gì đã là máu thịt thiêng liêng, giá trị nào đã “làm tổ” trong tâm hồn con người mọi thế hệ thì mãi mãi bền vững, có sức sống bền vững. Hồ Chí Minh nằm trong trường hợp đó, trong tâm hồn Việt Nam, trong trái tim nhân loại.
Di sản Hồ Chí Minh - từ tư tưởng, phương pháp và phong cách đến đạo đức và tấm gương đạo đức của Người đang là ánh sáng soi đường cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đi tới đích cuối cùng trên con đường lớn của lịch sử vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Năm tác phẩm của Người từ “Đường cách mệnh” đến “Di chúc” đã được coi là Quốc Bảo để gìn giữ, phát huy, để học tập và làm theo trong mọi thế hệ người Việt Nam. Cùng với Quốc Lễ - giỗ Tổ Hùng Vương, Quốc Hoa - Hoa Sen thanh cao của tâm hồn dân tộc tỏa ngát hương từ Làng Sen quê Bác, Quốc Bảo Hồ Chí Minh mãi mãi là Quốc Bảo trong lòng dân.
Theo Trang Thông tin điện tử Hồ Chí Minh
- Từ ý tưởng của Bác Hồ đến lần kỷ niệm Ngày Thương binh- Liệt sỹ đầu tiên (27/07/2015)
- Người khơi nguồn báo chí cách mạng Việt Nam (22/06/2015)
- Người là niềm tin tất thắng (22/05/2015)
- Sự kết hợp hài hòa giữa danh nhân văn hóa và nhà ngoại giao (15/05/2015)
- Những dự báo về thắng lợi thiên tài của Chủ tịch Hồ Chí Minh (13/05/2015)
- Chủ tịch Hồ Chí Minh: Anh hùng dân tộc, Danh nhân thế giới (11/05/2015)
- Vấn đề con người và chính sách xã hội đối với con người trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh (02/12/2014)
- Dân chủ trong cách lắng nghe ý kiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh (27/11/2014)
- Nét đặc sắc trong văn hóa giao tiếp Hồ Chí Minh (11/11/2014)
- Muốn người ta theo mình phải làm gương trước (06/11/2014)







