Chi tiết bài viết

Quy định về thừa kế tài sản

10:25, Thứ Tư, 5-4-2017

(Quang Binh Portal) - Ông Nguyễn Văn H ở phường Bắc Lý, thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình hỏi về trường hợp như sau: Gia đình ông A có 1 mảnh đất đã được cấp Giấy chứng nhận QSDĐ năm 1999 (tài sản chung của vợ chồng ông A). Đến năm 2009 ông A mất không để lại di chúc do đó một nửa tài sản là QSDĐ được cấp Giấy chứng nhận QSD đất của ông A sẽ được chia theo pháp luật. Ông A có 5 người con tuy nhiên 1 người con đã mất năm 2008 (người con đã mất này có vợ và 01 con trai 10 tuổi), mẹ đẻ ông A đã mất năm 2002; bố đẻ ông A mất năm 1990. Đến năm 2016 gia đình ông A đến Phòng Công chứng số 1 tỉnh Quảng Bình yêu cầu làm thủ tục thỏa thuận phân chia di sản thừa kế.

Vậy xin hỏi:

1. Việc thỏa thuận phân chia di sản của ông A có chỉ cần những người còn sống trong hàng thừa kế thứ nhất thỏa thuận hay cần cả vợ và con của người con đã mất của ông A nhất trí vì người con này mất trước khi ông A mất?

2. Những người trong cùng hàng thừa kế thì cần phải cung cấp giấy chứng tử của người mất hay chỉ cần ký Văn bản thỏa thuận phân chia di sản?

3. Thủ tục để chứng nhận Văn bản phân chia di sản thừa kế cần những loại giấy tờ gì, căn cứ vào các quy định nào?

Về vấn đề nêu trên của bạn đọc, chúng tôi xin có một số trao đổi và thông tin như sau:

Thứ nhất, về thỏa thuận phân chia di sản:

Theo quy định, những người thừa kế có quyền yêu cầu công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản, những người thừa kế phải ký vào văn bản thỏa thuận phân chia di sản.

Đối với trường hợp thừa kế theo pháp luật mà người thừa kế đã chết trước thời điểm người để lại di sản chết thì sẽ phát sinh người thừa kế thế vị. Tại Điều 677 Bộ Luật Dân sự năm 2005 quy định như sau: Trong trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống.

Như vậy, trong trường hợp này người con của ông A chết trước thời điểm mở thừa kế, do vậy con của người đó (cháu) sẽ hưởng phần thừa kế mà đáng lẽ người đó được hưởng nếu còn sống.

Trong văn bản thỏa thuận phân chia di sản phải thể hiện ý chí và đầy đủ chữ ký của những người thừa kế theo pháp luật. Trường hợp người cháu được thừa kế thế vị đang được 10 tuổi thì người mẹ sẽ ký thay với tư cách là người đại diện theo pháp luật thực hiện. Theo quy định tại Điều 141 Bộ Luật Dân sự năm 2005 thì người đại diện theo pháp luật là: Cha, mẹ đối với con chưa thành niên.

Thứ hai, về việc cung cấp giấy chứng tử của người mất khi thỏa thuận phân chia di sản

Theo quy định tại Điều 57 Luật Công chứng năm 2014 về trường hợp thừa kế theo pháp luật, thì trong hồ sơ yêu cầu công chứng phải có giấy tờ chứng minh quan hệ giữa người để lại di sản và người được hưởng di sản theo quy định của pháp luật về thừa kế. Trường hợp thừa kế theo di chúc, trong hồ sơ yêu cầu công chứng phải có bản sao di chúc. Như vậy, trường hợp có người thừa kế đã chết thì phải có giấy chứng tử khi làm hồ sơ yêu cầu công chứng thỏa thuận phân chia di sản thừa kế.

Thứ ba, về hồ sơ yêu cầu công chứng thỏa thuận phân chia di sản

Theo quy định thì Hồ sơ yêu cầu công chứng thỏa thuận phân chia di sản gồm các giấy tờ sau đây:

Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế;

Giấy chứng tử của người đã chết để lại di sản;

Bản sao giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản của người để lại di sản đó;

Giấy tờ tùy thân của những người thừa kế theo pháp luật (Lưu ý: CMND có thời hạn sử dụng 15 năm);

Giấy tờ chứng minh quan hệ giữa người để lại di sản và người được hưởng di sản theo quy định của pháp luật về thừa kế.

Đối với trường hợp ông nêu ra, sau khi đủ hồ sơ như trên, ông sẽ được công chứng viên của Tổ chức hành nghề công chứng tiến hành công chứng theo các bước như sau:

Bước 1: Niêm yết công khai theo Nghị định 29/2015/NĐ-CP ngày 15/3/2015 Nghị định Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số của điều của Luật Công chứng, cụ thể: Niêm yết việc thụ lý công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản, văn bản khai nhận di sản.

1. Việc thụ lý công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản, văn bản khai nhận di sản phải được niêm yết trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày niêm yết. Việc niêm yết do tổ chức hành nghề công chứng thực hiện tại trụ sở của Ủy ban nhân cấp xã nơi thường trú cuối cùng của người để lại di sản; trường hợp không xác định được nơi thường trú cuối cùng thì niêm yết tại nơi tạm trú có thời hạn cuối cùng của người đó.

Trường hợp di sản gồm cả bất động sản và động sản hoặc di sản chỉ gồm có bất động sản thì việc niêm yết được thực hiện theo quy định tại Khoản này và tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có bất động sản.

Trường hợp di sản chỉ gồm có động sản, nếu trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng và nơi thường trú hoặc tạm trú có thời hạn cuối cùng của người để lại di sản không ở cùng một tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thì tổ chức hành nghề công chứng có thể đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thường trú hoặc tạm trú có thời hạn cuối cùng của người để lại di sản thực hiện việc niêm yết.

2. Nội dung niêm yết phải nêu rõ họ, tên của người để lại di sản; họ, tên của những người thỏa thuận phân chia hoặc khai nhận di sản thừa kế; quan hệ của những người thỏa thuận phân chia hoặc khai nhận di sản thừa kế với người để lại di sản thừa kế; danh mục di sản thừa kế. Bản niêm yết phải ghi rõ nếu có khiếu nại, tố cáo về việc bỏ sót, giấu giếm người được hưởng di sản thừa kế; bỏ sót người thừa kế; di sản thừa kế không thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng của người để lại di sản thì khiếu nại, tố cáo đó được gửi cho tổ chức hành nghề công chứng đã thực hiện việc niêm yết.

3. Ủy ban nhân dân cấp xã nơi niêm yết có trách nhiệm xác nhận việc niêm yết và bảo quản việc niêm yết trong thời hạn niêm yết.

Bước 2. Hết thời hạn niêm yết thì những người liên quan đến trực tiếp tại tổ chức hành nghề công chứng để ký vào Văn bản thỏa thuận phân chia di sản. Việc công chứng có thể được thực hiện ngoài trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng trong trường hợp người yêu cầu công chứng là người già yếu, không thể đi lại được, người đang bị tạm giữ, tạm giam, đang thi hành án phạt tù hoặc có lý do chính đáng khác không thể đến trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng theo khoản 2, Điều 44 Luật Công chứng.

Trên đây là một số nội dung liên quan đến những vấn đề ông hỏi, chúng tôi xin thông tin, trao đổi thêm để ông rõ hơn về trường hợp của mình.

Nguồn: Sở Tư pháp

Các tin khác

Thông báo mới

VB mới

Chủ tịch HCM và đại tướng Võ Nguyên Giáp

Thông tin tuyên truyền (PBPL ... DVC)

Footer Quảng Bình

Lượt truy cập