Chi tiết tin - Quảng Bình
Báo cáo tổng kết thực hiện công tác Cải cách hành chính giai đoạn I (2001-2005) và tiếp tục đẩy mạnh Cải cách hành chính giai đoạn II (2006-2010)
A. KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÔNG TÁC CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH CỦA TỈNH TRONG 5 NĂM (2001-2005) THEO CHƯƠNG TRÌNH TỔNG THỂ CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC GIAI ĐOẠN 2001-2010
I. Đặc điểm tình hình:
Năm 2001-2005 là những năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng cộng sản Việt nam lần thứ IX, Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp và triển khai thực hiện chương trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn 2001-2010 của Chính phủ, là những năm xây dựng và hoàn thiện Đề án kiện toàn tổ chức, tinh giản biên chế theo tinh thần Nghị quyết Trung ương VII (khoá VIII); với những kết quả của Dự án cải cách hành chính VIE/96/002, sự quan tâm, giúp đỡ của các Bộ, ngành Trung ương, sự lãnh đạo, chỉ đạo của Thường vụ Tỉnh uỷ, Thường trực Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân tỉnh, đồng thời có sự hỗ trợ tích cực của các tổ chức Quốc tế. 5 năm qua tỉnh Quảng Bình thực hiện công tác cải cách hành chính đạt được một số kết quả, góp phần quan trọng vào sự nghiệp đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nhà.
II. Những kết quả chủ yếu thực hiện các nội dung, chương trình hành động cải cách hành chính như sau:
1. Sự chỉ đạo điều hành về công tác cải cách hành chính:
Uỷ ban nhân dân tỉnh đã tổ chức hội nghị triển khai quán triệt Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg ngày 17/9/2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010, đồng thời triển khai kế hoạch cải cách hành chính của tỉnh giai đoạn 2002-2005 tại Quyết định số 57/2002/QĐ-UB ngày 15/8/2002 của UBND tỉnh. Gồm lãnh đạo các Sở, ban ngành cấp tỉnh, Chủ tịch UBND các huyện, thành phố và các Trưởng phòng tổ chức của các huyện, thành phố, qua hội nghị đã quán triệt cho cán bộ chủ chốt các ngành, các cấp nhận thức sâu sắc về công tác cải cách hành chính, đồng thời thông qua các phương tiện thông tin đại chúng để tuyên truyền làm cho cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân hiểu cùng với các cơ quan Nhà nước triển khai thực hiện có hiệu quả chương trình cải cách hành chính của Chính phủ và của tỉnh.
Thành lập Ban chỉ đạo cải cách hành chính tỉnh do đồng chí Chủ tịch UBND tỉnh làm Trưởng Ban, đồng chí Phó Chủ tịch Thường trực HĐND tỉnh làm phó trưởng Ban, và một số thành viên là lãnh đạo của các Sở, Ngành như: Nội vụ; Tư pháp; Tài chính; Ban Tổ chức Tỉnh uỷ; Văn phòng UBND tỉnh (Sở Nội vụ là cơ quan Thường trực Ban chỉ đạo cải cách hành chính tỉnh), Ban chỉ đạo cấp tỉnh có tổ giúp việc gồm các chuyên viên của các Sở, Ngành có thành viên tham gia Ban chỉ đạo. Các Sở, Ngành không thành lập Ban chỉ đạo mà do Thủ trưởng cơ quan trực tiếp phụ trách công tác cải cách hành chính. Ở các huyện, thành phố đã thành lập Ban chỉ đạo cải cách hành chính do một đồng chí Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch UBND huyện, thành phố làm Trưởng Ban, đã xây dựng quy chế hoạt động của Ban chỉ đạo, bước đầu thực hiện có hiệu quả giúp cấp uỷ, chính quyền thực hiện tốt công tác cải cách hành chính ở địa phương.
Hoạt động của Ban chỉ đạo cải cách hành chính tỉnh và các huyện, thành phố trong những năm qua đã có nhiều cố gắng, bám sát các nội dung, chương trình đã đề ra trong kế hoạch cải cách hành chính của tỉnh giai đoạn 2002- 2005 để chỉ đạo các địa phương, đơn vị thực hiện, đã tiến hành nhiều đợt kiểm tra việc thực hiện cải cách hành chính ở một số địa phương và đơn vị. Qua kiểm tra cho thấy: công tác cải cách hành chính ở các địa phương và đơn vị bước đầu đạt được một số kết quả đáng kể, đặc biệt các địa phương công tác cải cách hành chính được chú trọng và thực hiện có hiệu quả hơn ở các ngành. Một số đơn vị vẫn chưa cụ thể hoá được chương trình và nội dung cải cách ở địa phương mình, còn rập khuôn theo chương trình cải cách của tỉnh.
Lãnh đạo một số ngành và địa phương còn có tư tưởng chần chừ trông chờ, thiếu kiên quyết, không muốn cải cách sợ đụng đến quyền lợi của bản thân, của tập thể cơ quan đơn vị và địa phương mình, do đó trong công tác chỉ đạo, chưa chủ động trong việc đề ra những nội dung, chương trình cải cách sát đúng, tích cực. Ban chỉ đạo làm việc kiêm nhiệm nên dành thời gian thích đáng cho chỉ đạo, kiểm tra công tác cải cách hành chính còn hạn chế.
2. Chương trình đổi mới công tác xây dựng, ban hành và nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật:
a) Công tác rà soát văn bản:
UBND tỉnh đã ban hành kế hoạch triển khai thực hiện Nghị định số 135/2003/NĐ-CP ngày 14/11/2003 của Chính phủ về việc kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật, thành lập tổ rà soát văn bản do Sở Tư pháp chủ trì cùng với Văn phòng UBND tỉnh, đã tập hợp và tiến hành rà soát toàn bộ văn bản do HĐND và UBND tỉnh ban hành từ ngày 01/01/2001 đến nay.
Tổng số văn bản đã tập hợp để rà soát: 8.043 văn bản các loại, trong đó: Quyết định 7.655 văn bản; Chỉ thị 307 văn bản và Nghị quyết 81 văn bản.
Tập trung rà soát, lên danh mục văn bản quy phạm pháp luật và văn bản áp dụng có chứa quy phạm pháp luật ở lĩnh vực Giáo dục - Đào tạo, đất đai, xây dựng cơ bản; kết quả: Trong 265 văn bản quy phạm pháp luật đã rà soát có 19 văn bản trong lĩnh vực Giáo dục - Đào tạo thì có 6 văn bản đã hết hiệu lực, 13 văn bản còn hiệu lực thi hành; 14 văn bản trong lĩnh vực đất đai thì có 9 văn bản hết hiệu lực, 5 văn bản còn hiệu lực thi hành; 8 văn bản trong lĩnh vực xây dựng cơ bản thì có 4 văn bản hết hiệu lực, 4 văn bản còn hiệu lực thi hành, số lượng thủ tục hành chính qua rà soát là 9 thủ tục trong đó 7 thủ tục công chứng, 1 thủ tục thay đổi cải chính hộ tịch, 1 thủ tục cấp phiếu lý lịch tư pháp. Sở Tư pháp phối hợp với Văn phòng UBND tỉnh và các ngành liên quan đã tổ chức 8 lớp tập huấn nghiệp vụ về kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật cho cán bộ Văn phòng của các Sở, ngành cấp tỉnh và cấp huyện, biên soạn biểu mẫu, hướng dẫn các địa phương, đơn vị tiến hành kiểm tra văn bản.
Thông qua công tác rà soát, kiểm tra văn bản và thẩm định văn bản giúp UBND các cấp nâng cao chất lượng soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật; lập lại trật tự, kỷ cương trong việc soạn thảo và quản lý văn bản, làm giảm bớt những sai sót, thiếu sót trong quá trình ban hành văn bản; tăng cường trách nhiệm quản lý nhà nước trong việc ban hành văn bản của các cấp theo quy định của pháp luật.
b) Công tác tuyên truyền cải cách hành chính và phổ biến giáo dục pháp luật:
- Thực hiện Quyết định số 178/2003/QĐ-TTg ngày 03/9/2003 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án tuyên truyền chương trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn 2001-2010, Uỷ ban nhân dân tỉnh đã có quyết định số 23/2004/QĐ-UB ngày 28/8/2004 về việc ban hành kế hoạch tuyên truyền chương trình cải cách hành chính giai đoạn năm 2004-2010. Sở Nội vụ phối hợp với Đài Phát thanh - Truyền hình và Báo Quảng Bình mở các chuyên mục tuyên truyền về cải cách hành chính trên sóng phát thanh Truyền hình và Báo Quảng Bình, thông tin đến cán bộ và nhân dân các văn bản của Chính phủ và của tỉnh về công tác cải cách hành chính, đưa tin một số địa phương, Sở, ngành thực hiện chương trình cải cách hành chính ở các lĩnh vực như đất đai, công chứng, chứng thực, đăng ký kinh doanh, chính sách xã hội.
- Sở Tư pháp tham mưu cho Hội đồng phối hợp phổ biến giáo dục pháp luật UBND tỉnh ban hành kế hoạch phổ biến giáo dục pháp luật giai đoạn 2003-2007, phối hợp với Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh, Ban Dân tộc, Uỷ ban Dân số Gia đình và Trẻ em, Sở Giáo dục - Đào tạo ký kết kế hoạch Liên tịch nhằm tăng cường phổ biến giáo dục pháp luật cho phụ nữ, cán bộ, nhân dân vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc ít người, tuyên truyền Pháp lệnh Dân số, chương trình phổ biến giáo dục pháp luật trong trường học, UBND tỉnh thành lập và cử thành viên tham gia Hội đồng phổ biến giáo dục pháp luật, công nhận 32 báo cáo viên pháp luật cấp tỉnh đợt 2. Hướng dẫn các địa phương củng cố, kiện toàn và nâng cao chất lượng hoạt động của Hội đồng phổ biến giáo dục pháp luật, thực hiện phương châm hướng về cơ sở, đã tổ chức kiểm tra công tác phổ biến giáo dục pháp luật ở 6 huyện trong tỉnh, hỗ trợ tài liệu và sách pháp luật cho một số địa phương, biên soạn, in ấn, phát hành 16.000 tờ gấp và sách pháp luật bỏ túi về tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật trong các lĩnh vực: Môi trường, Hôn nhân và gia đình, phòng chống Ma tuý, An toàn Giao thông…
Công tác tuyên truyền cải cách hành chính và phổ biến giáo dục pháp luật tuy đạt được một số kết quả. Nhưng nhìn chung lĩnh vực này vẫn còn một số hạn chế tồn tại đó là:
- Thông tin về cải cách hành chính trên các phương tiện thông tin đại chúng chưa được thường xuyên, chưa biểu dương được những đơn vị địa phương thực hiện tốt và có hiệu quả công tác cải cách hành chính, đồng thời chưa nghiêm khắc phê phán những đơn vị và địa phương thực hiện không nghiêm túc công tác cải cách hành chính của tỉnh và của Chính phủ.
- Chưa chuyển tải thông tin kịp thời các chủ trương và chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước cho người dân đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc ít người, Hội đồng phối hợp công tác phổ biến giáo dục pháp luật hoạt động kiêm nhiệm nên chưa dành thời gian thích đáng cho công tác này
- Kinh phí phục vụ cho công tác tuyên truyền còn hạn chế (xem phụ lục số: 1)
3. Chương trình nghiên cứu xác định vai trò, chức năng và cơ cấu tổ chức các Sở, ban, ngành cấp tỉnh, UBND các huyện, thành phố
3.1. Về xây dựng và thẩm định đề án:
Thực hiện Quyết định số 207/1999/QĐ-TTg ngày 25 tháng 10 năm 1999 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành kế hoạch thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ VII Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá VIII) và Nghị quyết số 16/2000/NQ-CP ngày 18 tháng 10 năm 2000 của Chính phủ về việc tinh giản biên chế trong các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp, tỉnh Quảng Bình đã xây dựng Đề án kiện toàn Tổ chức, tinh giản biên chế của tỉnh báo cáo Ban Thường vụ Tỉnh uỷ và trình Tổ thẩm định của Chính phủ phê duyệt theo quy định, đồng thời chỉ đạo các sở, ban, ngành và UBND các huyện, thành phố tiếp tục hoàn thiện Đề án. Đến hết năm 2003 toàn tỉnh có 24/24 Sở, ban, ngành cấp tỉnh và 7/7 huyện, thành phố đã được UBND tỉnh quyết định phê duyệt Đề án quy định chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy và biên chế.
3.2. Về rà soát chức năng, nhiệm vụ, phân cấp quản lý:
Căn cứ quy định của Chính phủ và các Bộ, Ngành, UBND tỉnh đã điều chỉnh một số chức năng, nhiệm vụ cho các Sở, ban, ngành như: Chuyển nhiệm vụ theo dõi diễn biến rừng và đất lâm nghiệp từ sở NN và PTNT sang Chi cục Kiểm lâm đảm nhận, nhập Phòng Tổ chức và Phòng Hành chính ở các Sở, ban, ngành cấp tỉnh thành phòng Hành chính - Tổng hợp, giải thể các tổ chức mà chức năng, nhiệm vụ không còn hoặc không rõ ràng như phòng Tài vụ ở các sở, Chi cục Điều động lao động và Dân cư. Quy định lại chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy và biên chế của Văn phòng UBND tỉnh, Sở Nội vụ, Sở Tài Chính, Sở Xây dựng, Sở Công nghiệp, Ban Dân tộc, thành lập mới một số tổ chức quản lý Nhà nước như: Sở Ngoại vụ, Văn phòng Đoàn Đại biểu Quốc Hội, Văn phòng Hội đồng nhân dân tỉnh trên cơ sở tách Văn phòng Hội đồng nhân dân và Đoàn đại biểu Quốc hội, Ban Tôn giáo.
Sau khi có Quyết định của UBND tỉnh, các huyện, thành phố, các Sở, ban, ngành đã tiến hành sắp xếp bộ máy để thực hiện các nhiệm vụ quy định trong Đề án. Thực hiện Quyết định của Thủ trướng Chính phủ và văn bản hướng dẫn của Bộ Nội vụ, đã tiến hành chuyển giao chức năng, nhiệm vụ, quản lý nhà nước về tổ chức, bộ máy và công chức thuộc về lĩnh vực Môi trường từ sở Khoa học Công nghệ và Môi trường, lĩnh vực khoáng sản từ Sở Công nghiệp sang Sở Địa chính đảm nhận kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2003 và đổi tên Sở Địa chính thành Sở Tài nguyên và Môi trường, chuyển nhiệm vụ giới thiệu địa điểm cấp đất từ Sở Xây dựng sang Sở Tài nguyên và Môi trường. Từng bước điều chỉnh, bố trí đội ngũ cán bộ, công chức ở các phòng ban đúng ngạch, bậc và ngành nghề đào tạo và theo tiêu chuẩn chức danh quy định. Ở các huyện, thành phố đã sắp xếp, ổn định tổ chức, thành lập một số đơn vị sự nghiệp để đáp ứng yêu cầu cung cấp dịch vụ hành chính và tách rõ giữa chức năng quản lý nhà nước và chức năng quản lý sự nghiệp.
- Việc phân cấp quản lý: Cùng với việc phân cấp lĩnh vực Phát thanh - Truyền hình, Thể dục - Thể thao và Văn hoá - Thông tin, Uỷ ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo và quyết định phân cấp quản lý Giáo dục Đào tạo từ bậc trung học cơ sở trở xuống cho UBND các huyện, thành phố trực tiếp quản lý.
- Về phân cấp tổ chức bộ máy và cán bộ: Uỷ ban nhân dân tỉnh đã ban hành Quyết định số 63/2004/QĐ-UB ngày 20/9/2004 về việc quy định tạm thời một số điều về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức, viên chức của tỉnh. Đã phân cấp cho các Sở, ban ngành và UBND các huyện, thành phố việc tuyển dụng viên chức sự nghiệp, công chức xã, phường, thị trấn.
- Về phân cấp thẩm quyền ký quyết định lương: Thực hiện Thông tư số 04/1999/TT-TCCP ngày 20/3/1999 của Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ nay là Bộ Nội vụ, Sở Nội vụ thẩm định danh sách nâng lương hàng năm từ ngạch chuyên viên trở xuống cho các Sở, ban ngành cấp tỉnh, UBND các huyện thành phố, sau khi thẩm định, phân cấp cho thủ trưởng các Sở, ban, ngành cấp tỉnh, Chủ tịch UBND các huyện, thành phố ra quyết định nâng bậc lương cho công chức, viên chức ở cơ quan đơn vị và địa phương mình.
- Thông qua việc soát chức năng nhiệm vụ, phân cấp quản lý, đã làm rõ những chồng chéo và trùng lắp về chức năng, nhiệm vụ giữa các cơ quan hành chính với nhau, làm rõ những loại công việc có thể phân cấp cho chính quyền địa phương các cấp và cấp dưới quản lý có hiệu quả hơn. Kết quả đó nhằm đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan hành chính, của các đơn vị sự nghiệp, dịch vụ hành chính công, tách rõ quản lý nhà nước với các hoạt động sự nghiệp, dịch vụ công; đồng thời thông qua phân cấp quản lý nhằm đề cao tinh thần trách nhiệm trong công tác quản lý nhà nước đối với thủ trưởng các Sở, ngành cấp tỉnh, Chủ tịch UBND cấp huyện, cấp xã trong việc thực hiện quản lý, điều động, bố trí và sử dụng cán bộ.
Tuy nhiên việc phân cấp chưa đồng bộ, chưa triệt để, một số lĩnh vực chưa có sự hướng dẫn rõ ràng nên khó thực hiện, do lợi ích cục bộ, một số ngành không muốn phân cấp.
3.3. Về sắp xếp bộ máy:
- Ở tỉnh: Thực hiện Nghị định số 12/2001/NĐ-CP ngày 27 tháng 3 năm 2001 của Chính phủ về việc tổ chức lại một số cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, UBND tỉnh đã quyết định hợp nhất Uỷ ban Dân số và kế hoạch hoá gia đình với Uỷ ban Bảo vệ chăm sóc Trẻ em để thành lập Uỷ ban Dân số Gia đình và Trẻ em theo đúng quy định; giảm được 8 phòng ban trực thuộc các sở, ngành cấp tỉnh, thành lập một số tổ chức sự nghiệp, đã tách chức năng quản lý nhà nước với chức năng sự nghiệp như: Thành lập Ban quản lý Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng; Ban quản lý các khu kinh tế, khu công nghiệp; Ban quản lý Cảng cá: Ban quản lý rừng phòng hộ, rừng đặc dụng...
- Sau khi có Nghị định số 171/2004/NĐ-CP ngày 29/9/2004 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, UBND tỉnh trình Hội đồng nhân dân tỉnh sắp xếp lại một lần nữa tổ chức bộ máy các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh, đến nay có: 26 cơ quan chuyên môn 6 đơn vị sự nghiệp thuộc tỉnh; 25 Hội quần chúng, 19 doanh nghiệp Nhà nước và doanh nghiệp công ích.
- Tham mưu cho UBND tỉnh thành lập các Hội đồng, Ban chỉ đạo hoạt động theo chương trình, nhiệm vụ, thời gian của UBND tỉnh, hoạt động kiêm nhiệm và tự giải thể sau khi hoàn thành nhiệm vụ.
- Ở UBND huyện, thành phố: Thực hiện Nghị định số 12/2001/NĐ-CP ngày 27/3/2001 của Chính phủ, Uỷ ban nhân dân tỉnh đã phê duyệt phương án sắp xếp số phòng, ban chuyên môn cấp huyện từ 13 - 14 phòng xuống còn 10 phòng (giảm 11 phòng, ban chuyên môn cấp huyện), bộ máy của các phòng ban sau khi sắp xếp lại gọn nhẹ, chức năng, nhiệm vụ rõ ràng, cụ thể, khắc phục một số chồng chéo, trùng lắp, hiệu lực quản lý nhà nước được tăng cường trên nhiều lĩnh vực. Thực hiện việc tách một số hoạt động dịch vụ công khỏi chức năng quản lý nhà nước ở địa phương như: Thành lập Ban quản lý chợ và các công trình công cộng, Ban quản lý các dự án đầu tư xây dựng, các Trung tâm tư vấn xây dựng huyện...
- Sau khi có Nghị định số 172/2004/NĐ-CP ngày 29/9/2004 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện, quận, thị xã thuộc tỉnh, UBND tỉnh đã trình HĐND tỉnh sắp xếp lại các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện gồm có 13 phòng, ban, riêng thành phố Đồng Hới có 12 phòng, ban.
Tuy nhiên bộ máy từ cấp tỉnh đến cấp xã qua nhiều lần kiện toàn sắp xếp tích cực nhưng hiện nay vẫn còn nhiều đầu mối trực thuộc. Một số cơ quan, đơn vị có tư tưởng muốn thành lập thêm các đơn vị sự nghiệp, tăng thêm biên chế, hiệu quả hoạt động của bộ máy chưa cao, chậm đổi mới.
4. Chương trình xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức
- Thực hiện Quyết định số 207/1999/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và Nghị quyết số 16/2000/NQ-CP của Chính phủ về việc tinh giản biên chế, UBND tỉnh đã chỉ đạo các ngành, địa phương sắp xếp lại tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ, công chức, từng bước đưa ra khỏi bộ máy những người năng lực, sức khoẻ hạn chế, chuyên môn không đạt yêu cầu. Đến hết quý I năm 2005, toàn tỉnh đã thực hiện chế độ nghỉ hưu trước tuổi cho 527 người và chuyển trên 200 cán bộ, công chức trong biên chế Nhà nước sang các cơ sở bán công, các dự án và hợp đồng lao động không hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Đã tổ chức thi tuyển để tuyển dụng 190 công chức hành chính cho các sở, ban ngành và UBND các huyện, thành phố và tổ chức thi tuyển, xét tuyển viên chức sự nghiệp của ngành Giáo dục và Y tế 2.422 công chức, viên chức. Thực hiện Nghị định số 114/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ về cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn, Uỷ ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo các địa phương sắp xếp, bố trí công chức cấp xã theo đúng chức danh và tiêu chuẩn, đồng thời tiến hành chỉ đạo các địa phương tổ chức thi tuyển và xét tuyển để tuyển dụng, bổ sung những chức danh còn thiếu. Thường vụ Tỉnh uỷ ban hành chính sách thu hút cán bộ khoa học kỹ thuật về công tác ở địa phương, từng bước nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức. UBND tỉnh kiểm tra chấn chỉnh, chấm dứt các loại hợp đồng tuỳ tiện ở các Sở, Ngành và UBND các huyện, thành phố.
- Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức và cán bộ cơ sở được quan tâm, đã tập trung đào tạo cho đội ngũ cán bộ thôn, bản, tiểu khu, cán bộ xã phường, thị trấn và công chức hành chính với các loại hình như: Bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước ngạch chuyên viên, quản lý nhà nước chính quyền cơ sở, nghiệp vụ Tổ chức nhà nước, chuyên môn nghiệp vụ, lý luận chính trị, Tin học, Ngoại ngữ và chương trình trung cấp các lĩnh vực khác với số lượng 6.671 lượt người tham gia và tổ chức bồi dưỡng Đại biểu Hội đồng nhân dân 3 cấp nhiệm kỳ (2004- 2009) với số lượng là: 3.818 Đại biểu, trong đó:
+ Cấp tỉnh: 41 Đại biểu
+ Cấp huyện: 246 Đại biểu
+ Cấp xã: 3531 Đại biểu
Uỷ ban nhân dân tỉnh đã tuyển chọn và cử 85 cán bộ đi đào tạo sau Đại học ở các cơ quan, đơn vị và doanh nghiệp.
Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức còn nhiều hạn chế nhất là nâng cao kỹ năng hành chính, thực thi công vụ và đào tạo, bồi dưỡng sau Đại học, chưa gắn đào tạo với sử dụng, thiếu quy hoạch, còn tình trạng đào tạo bồi dưỡng tràn lan tạo nên lãng phí trong đào tạo...,vì vậy tỷ lệ cán bộ, công chức thạo việc chiếm tỷ lệ thấp, hiệu quả công tác của bộ máy sau thực hiện cải cách hành chính vẫn chưa cao.
5. Chương trình tiếp tục nâng cao chất lượng và mở rộng cải cách các dịch vụ công và trung tâm giao dịch "một cửa"
5.1. Đối với cấp tỉnh:
Thực hiện Quyết định số 181/2003/QĐ-TTg ngày 04/9/2003 của Chính phủ về việc ban hành quy chế thực hiện cơ chế "một cửa" ở các cơ quan hành chính Nhà nước địa phương, Uỷ ban nhân dân tỉnh chỉ đạo các Sở, Ban, ngành cấp tỉnh, theo chức năng, nhiệm vụ của ngành, đơn vị mình chọn một số lĩnh vực bức thiết liên quan đến tổ chức và công dân để xây dựng Đề án thực hiện cơ chế "một cửa", chọn 17 Sở và Bệnh viện Việt Nam Cu Ba - Đồng Hới xây dựng Đề án thực hiện cơ chế "một cửa". Đến cuối tháng 10 năm 2004, các đơn vị nói trên đã triển khai thực hiện Đề án.
Hoạt động theo cơ chế "một cửa" của các Sở, ngành tuy mới hình thành, nhưng bước đầu cho thấy chất lượng phục vụ được nâng lên một bước, quy trình xử lý công việc được đổi mới, hợp lý khoa học, giảm phiền hà cho khách hàng, khách hàng chỉ đến một nơi thay vì trước đây phải đến nhiều nơi mà vẫn được giải quyết tốt công việc, thời gian giải quyết công việc được rút ngắn. Hầu hết cán bộ ở bộ phận tiếp nhận và trả kết quả làm việc nhiệt tình, có trách nhiệm được người dân đồng tình ủng hộ.
5.2. Đối với UBND các huyên, thành phố: (gọi chung là cấp huyện)
Phát huy Dự án cải cách hành chính công (VIE/96/002), Uỷ ban nhân dân tỉnh chỉ đạo tất cả các huyện còn lại xây dựng và thực hiện cơ chế "một cửa" cấp huyện, đến tháng 6 năm 2001, Trung tâm giao dịch "một cửa" của 7/7 huyện, thành phố đã đi vào hoạt động với các lĩnh vực như: Công chứng, chứng thực, Địa chính, Đăng ký kinh doanh, Chính sách xã hội, Xây dựng.
Quá trình hình thành Trung tâm giao dịch "một cửa" cấp huyện đã đặt ra những vấn đề bức thiết, cấp bách, đáp ứng yêu cầu của đông đảo nhân dân, nhằm cải cách thủ tục hành chính trong khuôn khổ các văn bản Nhà nước quy định, tạo bước chuyển biến, tiến bộ của bộ máy hành chính của các cấp chính quyền, gây niềm tin ban đầu cho nhân dân..
5.3. Đối với UBND các xã, phường, thị trấn: (gọi chung là cấp xã)
Uỷ ban nhân dân tỉnh đã có Quyết định số 88/2004/QĐ-UB ngày 13/12/2005 về việc áp dụng cơ chế một cửa tại UBND các xã, phường, thị trấn, đối với các lĩnh vực: Xây dựng; Đất đai; Hộ tịch; Chứng thực. Sở Nội vụ phối hợp với UBND các huyện, thành phố hướng dẫn các xã xây dựng đề án thực hiện cơ chế "một cửa", đồng thời phối hợp với các Sở, ngành quản lý nhà nước đối với các lĩnh vực trên hướng dẫn thủ tục, hồ sơ, quy trình phí và lệ phí từng lĩnh vực để các xã thống nhất áp dụng. Đến ngày 30/4/2005 có 18/159 xã, thị trấn đã khai trương bộ phận giao dịch một cửa, 55 xã đang triển khai xây dựng Đề án. Dự kiến đến cuối năm 2005 có từ (50 - 60)% số xã, phường trong toàn tỉnh thực hiện cơ chế "một cửa".
5.4. Về Dự án nhân rộng mô hình giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo cơ chế "một cửa", được nhân rộng từ Dự án tỉnh Quảng Trị:
Ngày 31 tháng 7 năm 2003, Chính phủ đã có Công văn số 1007/CP-QHQT về việc đồng ý cho 4 tỉnh miền Trung trong đó có tỉnh Quảng Bình thực hiện Dự án nhân rộng mô hình giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo cơ chế "một cửa" đã được thí điểm tại tỉnh Quảng Trị do Chính phủ Thuỵ Điển tài trợ thông qua tổ chức SIDA tại xã An Thuỷ thuộc huyện Lệ Thuỷ, Phường Bắc Lý và xã Bảo Ninh thuộc thành phố Đồng Hới. Sau một năm triển khai ở 3 đơn vị thí điểm kết quả: tổng số giấy đã cấp cho cá nhân và hộ gia đình đến 31/12/2004 là: 2.404 giấy. Hiện nay Ban điều phối Dự án nhân rộng báo cáo nhà tài trợ cho phép Dự án được kéo dài đến 30/9/2005 mới kết thúc và tỉnh ta nhân rộng thêm một xã của huyện Quảng Ninh. Kết quả thực hiện của Dự án là thời gian giải quyết về giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình và cá nhân so với trước đây được rút ngắn rất nhiều, giảm thời gian đi lại và tốn kém của người dân, nhân dân phấn khởi, đồng tình.
Nhìn chung hoạt động theo cơ chế "một cửa" tuy có nhiều đổi mới, đơn giản hoá được thủ tục, giảm thời gian, thuận tiện cho người dân và tổ chức...; Nhưng so với yêu cầu của cải cách hành chính thì lĩnh vực này còn một số tồn tại đó là: một số thủ tục hành chính chưa được cải tiến, có nơi còn hình thức, còn hành dân, ách tắc chậm trễ, đặc biệt là các thủ tục xây dựng cơ bản, công tác giải phóng mặt bằng, việc giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình và cá nhân. Kỷ cương, kỷ luật hành chính trong thực thi công vụ của một số cán bộ, công chức còn cửa quyền, tuỳ tiện, sách nhiễu đối với dân, tinh thần trách nhiệm và năng lực của một số cán bộ, công chức còn yếu và có sai phạm về kinh tế.
6. Chương trình đổi mới cơ chế quản lý tài chính đối với các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp.
- Thực hiện Quyết định số 192/2001/QĐ-TTg ngày 17/12/2001 của Thủ tướng Chính phủ về mở rộng thí điểm khoán biên chế và kinh phí quản lý hành chính, Uỷ ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo các Sở xây dựng Đề án. Đến nay có 24 Sở, cơ quan đã thực hiện khoán biên chế và kinh phí quản lý hành chính.
Cơ chế khoán biên chế và kinh phí quản lý hành chính là cơ chế quản lý tích cực, có hiệu quả, tạo quyền tự chủ, thay đổi phương thức quản lý, giảm dần áp lực tăng biên chế, một số sở tuy còn biên chế nhưng không tuyển dụng thêm, tiết kiệm chi tiêu hành chính, nâng cao năng suất lao động và tăng thu nhập chính đáng cho cán bộ, công chức.
- Tuy nhiên việc thực hiện Quyết định số 192/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ vẫn còn một số hạn chế đó là: Lãnh đạo một số Sở chưa nhận thức đúng tinh thần Quyết định 192/2001/QĐ-TTg, chỉ đơn thuần coi việc thực hiện khoán là để tăng thu nhập cho cán bộ, công chức mà chưa chú trọng đúng mức đến các yêu cầu về đổi mới cơ chế quản lý, tăng quyền tự chủ và trách nhiệm cho cơ quan, đơn vị trong việc tổ chức sắp xếp bộ máy, giảm biên chế, thực hiện tiết kiệm, chống lãng phí, nâng cao hiệu suất lao động và hiệu quả công tác. Nhiều Sở còn lúng túng trong việc thực hiện khoán biên chế và kinh phí quản lý hành chính theo Quyết định số 192/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, chưa nâng cao hiệu suất làm việc, kết quả sắp xếp tổ chức bộ máy tinh giản biên chế còn hạn chế.
- Thực hiện Nghị định số 10/2002/NĐ-CP ngày 16/01/2002 của Chính phủ về việc thực hiện cơ chế tự chủ về tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp có thu, đến hết quý I năm 2005 có 72/100 đơn vị áp dụng Nghị định 10 của Chính phủ.
Thông qua việc thực hiện cơ chế này, các đơn vị sự nghiệp có thu đã phát huy tính tự chủ, chủ động sắp xếp tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế, tiết kiệm trong chi tiêu, năng động trong giải quyết công việc, nâng cao chất lượng dịch vụ công, tăng thu nhập cải thiện đời sống cho cán bộ, công chức, viên chức. Tuy nhiên bên cạnh những mặt đã đạt được, cơ chế này còn bộc lộ một số hạn chế: Đó là khoảng 50% đơn vị khoán không có khả năng tăng thu nhập cho cán bộ, công chức do không thực hiện được các định mức trong khoán, chưa giảm được biên chế, còn lúng túng trong quá trình thực hiện Nghị định 10 của Chính phủ như: còn tuỳ tiện trong chi tiêu, chưa xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ, quản lý và công khai tài chính còn hạn chế...
7. Chương trình hiện đại hoá một bước Văn phòng làm việc.
- Trụ sở làm việc của các cơ quan, đơn vị hành chính sự nghiệp cấp tỉnh và cấp huyện được nâng cấp, trang thiết bị từng bước đổi mới, hiện đại hơn, điều kiện và phương tiện làm việc của cán bộ, công chức được bảo đảm. Hệ thống tin học được nối từ tỉnh xuống các sở, ban ngành cấp tỉnh và UBND các huyện, thành phố. Hiện nay có 35 đầu mối cấp tỉnh, cấp huyện được nối mạng đến Văn phòng UBND tỉnh; 8 Sở đã nối mạng nội bộ như: Nội vụ; Khoa học - Công nghệ; Tài chính; Giáo dục - Đào tạo; Văn phòng UBND tỉnh; Ngoại vụ; Kế hoạch và Đầu tư; Tài nguyên và Môi trường; Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn; Sở Nội vụ đang triển khai việc quản lý công chức hành chính và công chức cấp xã trên máy vi tính.
- Đối với chính quyền cấp xã, phường thị trấn: việc nâng cấp trụ sở làm việc ở các xã, phường thị trấn đã được quan tâm: Đến nay đã có 118/159 xã phường, thị trấn đã có và đang xây dựng trụ sở làm việc nhà cấp 2-3 chiếm gần 75%; phần lớn các xã đã có máy vi tính, tuy nhiên: cơ sở vật chất ở một số xã ở các huyện miền núi còn nhiều khó khăn, thiếu thốn, thông tin liên lạc từ huyện xuống các xã còn nhiều bất cập, hiện nay còn 12/159 xã chưa có điện thoại...
- Trụ sở làm việc tuy có xây dựng mới nhưng vẫn còn chật hẹp, trang thiết bị làm việc còn thiếu, hệ thống tin học chưa được nối mạng ở diện rộng tại các Sở, ban ngành và UBND các huyện thành phố.
Tóm lại: Trong 5 năm qua công tác cải cách hành chính đạt được một số kết quả đáng kể; hầu hết các chương trình đề ra đã tổ chức thực hiện bước đầu đạt kết quả khá tốt, nhận thức về cải cách hành chính được nâng lên một bước, góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh: Chất lượng các văn bản quy phạm pháp luật được nâng lên, thủ tục hành chính hầu hết các lĩnh vực được rà soát đơn giản hơn, trình độ năng lực phẩm chất của đội ngũ cán bộ, công chức thực thi công vụ được nâng lên rõ rệt, từng bước được chuẩn hoá, làm cho bộ máy hành chính các cấp hoạt động có sự chuyển biến tích cực hiệu quả hơn trước, do đó việc chỉ đạo điều hành của bộ máy hành chính có nhiều tiến bộ trên tất cả các lĩnh vực của đời sống Kinh tế - Văn hoá - Xã hội; tạo được sự chuyển biến trên nhiều mặt, từng bước vững chắc, có tác động tích cực làm cho kinh tế của tỉnh tăng trưởng khá và hầu hết các mục tiêu kinh tế xã hội đều đạt được theo kế hoạch đề ra. Tuy nhiên so với yêu cầu công cuộc đổi mới, của sự phát triển kinh tế - xã hội thì cải cách hành chính còn chậm, thiếu đồng bộ, chỉ đạo thiếu kiên quyết và quyết liệt, chưa có sự chuyển biến thật sự trong nhận thức của cán bộ, công chức, viên chức và người dân về tính cấp thiết và vai trò ý nghĩa của cải cách hành chính, thủ tục hành chính còn rườm rà; một số nơi thực hiện cơ chế "một cửa" còn hình thức, bộ máy còn công kềnh; biên chế không giảm; tỷ lệ công chức thạo việc còn thấp; một số cán bộ, công chức thiếu trách nhiệm trong thực thi công vụ; kỷ cương kỷ luật hành chính chưa nghiêm.
III. Nguyên nhân và bài học kinh nghiệm:
1. Nguyên nhân:
Mặc dù công tác cải cách hành chính trong 5 năm qua triển khai khá tốt theo kế hoạch. Tuy nhiên so với yêu cầu thì công tác cải cách hành chính ở tỉnh ta trong thời gian qua vẫn còn một số tồn tại và hạn chế, nguyên nhân chủ yếu là:
1.1. Chương trình, kế hoạch cải cách hành chính của một số địa phương, và nhiều ngành còn chung chung; Thủ trưởng một số cơ quan, đơn vị, địa phương chưa thực sự quan tâm và thiếu kiên quyết trong thực hiện công tác cải cách hành chính, thậm chí còn né tránh vì sợ đụng chạm đến quyền lợi cá nhân và tập thể của đơn vị, địa phương mình.
1.2. Công tác chỉ đạo điều hành của các cấp, các ngành có lúc còn khoán trắng cho các cơ quan tham mưu, thiếu kiên quyết và quyết liệt nên kết quả cải cách hành chính chưa cao, tiến độ còn chậm và thiếu đồng bộ.
1.3. Trách nhiệm của một số cán bộ, công chức, viên chức trong giải quyết công việc công tác cải cách hành chính, trong thực thi công vụ không cao, chưa thực sự là công bộc của dân.
1.4. Ban chỉ đạo cải cách hành chính cấp tỉnh, cấp huyện đều là cán bộ kiêm nhiệm, nên chưa dành đủ thời gian cần thiết để chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra công tác cải cách hành chính ở các ngành và địa phương.
1.5. Cơ chế, chính sách của Nhà nước có nhiều thay đổi ảnh hưởng đến tiến trình cải cách.
2. Bài học kinh nghiệm:
a. Cải cách hành chính là một lĩnh vực khó, do đó phải có sự chỉ đạo đồng bộ cả hệ thống chính trị ở địa phương, từ cấp uỷ đến chính quyền phải có quyết tâm mới đạt được kết quả mong muốn, đặc biệt là nhận thức và sự chỉ đạo của người đứng đầu, vì thực sự đây là một cuộc đấu tranh quyết liệt với sự bảo thủ trì trệ để đi đến một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh và từng bước hiện đại.
b. Cần phải có một tổ chức thường trực để giúp việc cho chính quyền các cấp trong việc xây dựng chương trình, nội dung về cải cách, đồng thời hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện các nội dung, chương trình cải cách hành chính của địa phương, đơn vị như: Ban chỉ đạo cải cách hành chính cấp tỉnh, cấp huyện, cán bộ theo dõi công tác cải cách hành chính ở Sở, ban ngành cấp tỉnh và UBND các huyện, thành phố.
c. Cải cách hành chính cần phải có đủ điều kiện về cơ sở vất chất và kinh phí: đây là yêu tố quan trọng để thực hiện thành công chương trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn 2001-2010 và chương trình cải cách hành chính của tỉnh giai đoạn 2002-2005 và những năm tiếp theo.
B. CHƯƠNG TRÌNH VÀ CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU THỰC HIỆN NỘI DUNG CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH GIAI ĐOẠN II (2006-2010)
I. Mục tiêu, phương hướng nhiệm vụ cải cách hành chính giai đoạn II (2006-2010):
- Tiếp tục đổi mới quy trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật, phát huy dân chủ, huy động trí tuệ của nhân dân để nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật.
- Xoá bỏ cơ bản thủ tục hành chính mang tính quan liêu rườm rà gây phiền hà cho tổ chức và công dân, hoàn thiện các thủ tục hành chính theo hướng công khai, đơn giản, giảm thời gian và thuận tiện.
- Bộ máy các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, cấp huyện được tổ chức gọn nhẹ, chức năng nhiệm vụ không chồng chéo trùng lắp, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả.
- Tất cả các cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp đều thực hiện tốt việc khoán biên chế và kinh phí quản lý hành chính theo Quyết định số 192/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và cơ chế tự chủ về tài chính theo Nghị định số 10/2002/NĐ-CP của Chính phủ đạt kết quả tốt.
- Đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đủ số lượng và đạt chất lượng cao, có đủ phẩm chất năng lực thực thi công vụ, thạo việc tận tuỵ phục vụ nhân dân
- Hiện đại hoá một bước công sở làm việc, trang bị tương đối hiện đại phục vụ yêu cầu quản lý Nhà nước kịp thời và thông suốt, hệ thống thông tin được mở rộng từ tỉnh đến cơ sở.
II. Tiếp tục thực hiện các chương trình cải cách hành chính giai đoạn II (2006-1010):
Trên cơ sở những kết quả đã đạt được trong giai đoạn I (2001-2005), đánh giá tổng kết kinh nghiệm để tiếp tục triển khai chương trình, kế hoạch giai đoạn II (2006-2010), làm cho bộ máy hành chính Nhà nước có hiệu lực và nâng cao hiệu quả hoạt động, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và thực hiện mục tiêu của chương trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn (2001-2010) theo Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg ngày 17/9/2001 của Thủ tướng Chính phủ và Chỉ thị số 09/2005/CT-TTg ngày 05/4/2005 của Thủ tướng Chính phủ về tiếp tục đẩy mạnh công tác cải cách hành chính với các chương trình chủ yếu sau đây:
1. Chương trình đổi mới công tác xây dựng, ban hành và nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật; tăng cường công tác giáo dục pháp luật:
- Tiếp tục rà soát và hệ thống hoá văn bản quy phạm pháp luật hàng năm
- Đổi mới quy trình, thủ tục soạn thảo văn bản, quy chế phân công trách nhiệm giữa các cơ quan có liên quan trong việc soạn thảo văn bản và tham mưu cho HĐND và UBND ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo quy định của pháp luật
- Tăng cường năng lực các cơ quan chuyên môn trong việc xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật
- Đổi mới và tăng cường công tác giáo dục pháp luật.
+ Cơ quan chủ trì: Sở Tư pháp.
+ Cơ quan phối hợp: Văn phòng UBND tỉnh.
+ Thời gian thực hiện: 2006-2010
2. Chương trình nghiên cứu rà soát chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của các Sở, ban ngành cấp tỉnh, UBND các huyện, thành phố
- Tiếp tục rà soát để xác định chức năng, nhiệm vụ của các Sở, ban ngành cấp tỉnh, các phòng ban chuyên môn cấp huyện, thành phố, xử lý chồng chéo, trùng lắp, tách chức năng quản lý Nhà nước và chức năng sự nghiệp dịch vụ công.
- Tiếp tục rà soát, điều chỉnh lại cơ cấu tổ chức bên trong thuộc các Sở, ban ngành và UBND các huyện, thành phố phù hợp với yêu cầu quản lý Nhà nước về lĩnh vực ngành.
- Tiếp tục nghiên cứu để phân cấp cho phù hợp có hiệu quả giữa các cấp, các ngành, địa phương một số lĩnh vực: như Y tế; Giáo dục; Xây dựng cơ bản..., quản lý quy hoạch, quản lý cán bộ, công chức, viên chức.
+ Cơ quan chủ trì: Sở Nội vụ.
+ Cơ quan phối hợp: Văn phòng UBND tỉnh, Sở Xây dựng, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Giáo dục, Sở Y tế.
+ Thời gian thực hiện: 2006-2010
3. Chương trình xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức:
- Thực hiện phân cấp quản lý nhân sự.
- Xây dựng cơ cấu chức danh, tiêu chuẩn nghiệp vụ cán bộ, công chức, viên chức trong các đơn vị hành chính sự nghiệp.
- Xây dựng kế hoạch, quy hoạch đào tạo- Bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức thời kỳ 2006-2010.
- Nâng cao năng lực của Trường Chính trị tỉnh và các Trung tâm bồi dưỡng chính trị các huyện, thành phố cả cơ sở vật chất và con người
- Trang bị các công cụ quản lý nguồn nhân lực bằng công nghệ thông tin
+ Cơ quan chủ trì: Sở Nội vụ.
+ Cơ quan phối hợp: Ban Tổ chức Tỉnh uỷ, Trường Chính trị tỉnh, Sở Tài chính, Văn phòng UBND tỉnh, Sở Kế hoạch và Đầu tư.
+ Thời gian thực hiện: 2006-2010
4. Chương trình tiếp tục nâng cao chất lượng và mở rộng các dịch vụ công, thực hiện tốt cơ chế "một cửa" ở các cấp:
- Tất cả các cơ quan đơn vị đều tổ chức rà soát, sửa đổi, đơn giản hoá các thủ tục hành chính thuộc phạm vi của mình, nhất là những lĩnh vực bức xúc liên quan đến tổ chức và công dân.
- Tiếp tục duy trì, củng cố, mở rộng thêm và nâng cao chất lượng một số lĩnh vực dịch vụ hành chính công tại các Trung tâm giao dịch "một cửa" cấp huyện và các quầy giao dịch "một cửa" của một số Sở, ngành cấp tỉnh.
- Đẩy nhanh tiến độ thực hiện cơ chế một cửa ở các xã, phường, thị trấn 100% Số xã, phường thực hiện cơ chế "một cửa".
+ Cơ quan chủ trì: Sở Nội vụ.
+ Cơ quan phối hợp: Sở Tư pháp, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Xây dựng, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Văn phòng UBND tỉnh và UBND các huyện, thành phố.
+ Thời gian thực hiện: Đến năm 2006 cơ bản hoàn thành
5. Chương trình đổi mới cơ chế quản lý Tài chính đối với các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp:
- Tiếp tục thực hiện khoán biên chế và kinh phí quản lý hành chính theo Quyết định số 192/2001/QĐ-TTg ngày 17/12/2001 của Thủ tướng Chính phủ đối với các Sở, ngành còn lại và UBND các huyện, thành phố. Thực hiện cơ chế tự chủ về Tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp có thu theo Nghị định số 10/2002/NĐ-CP ngày 16/01/2002 của Chính phủ.
- Đổi mới cơ chế tài chính phù hợp để đẩy mạnh chương trình xã hội hoá nhất là xã hội hoá các lĩnh vực: Giáo dục, Y tế, Văn hoá - Thông tin, Thể thao, Khoa học công nghệ, Dân số Gia đình và Trẻ em.
+ Cơ quan chủ trì: Sở Tài chính.
+ Cơ quan phối hợp: Sở Nội vụ, Văn phòng UBND tỉnh.
+ Thời gian thực hiện: Đến năm 2006 cơ bản hoàn thành.
6. Chương trình hiện đại hoá một bước văn phòng làm việc:
- Hiện đại hoá công sở, bảo đảm phương tiện, thiết bị, điều kiện làm việc tương đối hiện đại cho các cơ quan hành chính.
- Xây dựng Đề án giảm hội họp và văn hoá văn minh công sở.
- Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp.
- Mở rộng mạng lưới tin học diện rộng từ tỉnh đến cơ sở, đồng thời tạo điều kiện cho chính quyền cơ sở có trụ sở và phương tiện làm việc đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.
+ Cơ quan chủ trì: Văn phòng UBND tỉnh.
+ Cơ quan phối hợp: Sở Kế hoạch và Đầu tư; Sở Tài chính; Sở Khoa học công nghệ; UBND các huyện, thành phố.
III. Các giải pháp chủ yếu để thực hiện nội dung, chương trình cải cách hành chính giai đoạn 2006-2010:
1. Tăng cường công tác chỉ đạo điều hành
Cải cách hành chính đòi hỏi sự đổi mới sâu sắc, trong tư duy và nhận thức và để thực hiện có hiệu quả chương trình cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn (2006-2010) cần có sự quyết tâm và chỉ đạo các cấp, các ngành:
- Các cấp uỷ Đảng: Cần có Chỉ thị, Nghị quyết để tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo kiên quyết để các đơn vị, các địa phương triển khai đồng bộ và có hiệu quả công tác cải cách hành chính, phải gắn công tác cải cách hành chính với việc xây dựng và chỉnh đốn Đảng.
- Đối với chính quyền các cấp, Thủ trưởng các Sở, ban ngành cấp tỉnh: Phải coi nhiệm vụ cải cách hành chính là nhiệm vụ cấp bách quan trọng, thường xuyên cần tập trung chỉ đạo, điều hành công tác cải cách hành chính ở địa phương và đơn vị mình, gắn công tác cải cách hành chính với thực hiện quy chế dân chủ cơ sở và thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương, đơn vị.
- Đối với Ban chỉ đạo cải cách hành chính tỉnh: Đầu tư thêm thời gian để điều hành, chỉ đạo công tác cải cách hành chính ở các địa phương và đơn vị.
2. Thực hiện cải cách hành chính phải đồng bộ từ tỉnh đến cơ sở
Thực hiện đồng bộ cải cách hành chính ở các Sở Ban ngành cấp tỉnh, UBND các huyện, thành phố các cơ quan Đảng, Đoàn thể, các cơ quan Trung ương đóng tại địa phương, các cấp, các ngành, các cơ quan, đơn vị có như vậy công tác cải cách hành chính đạt được hiệu quả cao và bảo đảm được tiến độ đề ra.
3. Bố trí đủ nguồn Tài chính và tăng cường tổ chức bồi dưỡng cán bộ có năng lực thực hiện nhiệm vụ cải cách hành chính
Cần phải bố trí đủ bộ máy và cán bộ có năng lực cho việc thực hiện chương trình cải cách hành chính. Nâng cao năng lực nghiên cứu và chỉ đạo của các cơ quan có trách nhiệm giúp UBND các cấp tổ chức thực hiện nhiệm vụ cải cách hành chính, đồng thời bố trí nguồn Tài chính cần thiết theo kế hoạch hàng năm, có chế độ chính sách hợp lý cho cán bộ trực tiếp thực hiện cơ chế "một cửa" để xây dựng và thực hiện có hiệu quả các chương trình kế hoạch về cải cách hành chính.
4. Tăng cường công tác tuyên truyền
Cải cách hành chính không chỉ là công việc riêng của hệ thống hành chính, mà là yêu cầu chung và mục tiêu của toàn xã hội. Vì vậy cần tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, thông tin để cán bộ, công chức, viên chức và mọi người dân nhận thức đúng và thực hiện tốt công tác cải cách hành chính.
5. Chú trọng công tác thanh tra, kiểm tra
- Có kế hoạch về công tác thanh tra, kiểm tra công chức, công vụ, lập lại kỷ luật và kỷ cương hành chính.
- Thường xuyên kiểm tra công tác cải cách hành chính ở các Sở, ngành cấp tỉnh, UBND các huyện, thành phố và các xã, phường, thị trấn, nhằm mục đích động viên, biểu dương những đơn vị, địa phương thực hiện tốt công tác cải cách hành chính, đồng thời phê phán những đơn vị, địa phương thực hiện không nghiêm túc công tác cải cách hành chính.
IV. Một số kiến nghị đề xuất:
1. Đề nghị Trung ương có sự chỉ đạo về công tác cải cách hành chính một cách đồng bộ, kiên quyết và triệt để từ Trung ương xuống địa phương.
2. Đề nghị nghiên cứu các cơ chế, chế độ, chính sách về đào tạo, bồi dưỡng, phụ cấp... của hệ thống tổ chức làm công tác cải cách hành chính từ Trung ương xuống địa phương; các văn bản hướng dẫn cần cụ thể, thống nhất giữa các Bộ, ngành để địa phương dễ thực hiện.
3. Đề nghị Trung ương có kế hoạch ngân sách đầu tư cho chương trình cải cách hành chính hàng năm ở địa phương và quan tâm hỗ trợ nhiều chương trình dự án cải cách hành chính.
4. Đề nghị nghiên cứu bộ máy làm công tác cải cách hành chính ở các cấp, các ngành, các địa phương, bảo đảm tính thống nhất, ổn định để giúp Ban chỉ đạo cải cách hành chính các cấp thực hiện có hiệu quả công tác cải cách hành chính./.
Nguồn (Báo cáo số: 36/BC-UBND)







