Chi tiết bài viết

Kết quả công tác cải cách hành chính năm 2024 và phương hướng, nhiệm vụ năm 2025 tỉnh Quảng Bình

15:7, Thứ Sáu, 7-2-2025

(Quang Binh Portal) - Ngày 20/2/2025, UBND tỉnh đã có Báo cáo số 446/BC-UBND về kết quả công tác cải cách hành chính năm 2024 và phương hướng, nhiệm vụ năm 2025 của tỉnh. Nội dung cụ thể như sau:

I. CÔNG TÁC CHỈ ĐẠO, ĐIỀU HÀNH CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH

1. Đánh giá về các hoạt động chỉ đạo, điều hành nổi bật của Lãnh đạo UBND tỉnh đối với công tác CCHC

Năm 2024, công tác cải cách hành chính tiếp tục được UBND tỉnh xác định là một trong những trọng tâm chỉ đạo điều hành của UBND tỉnh, Chủ tịch UBND tỉnh, nhằm thúc đẩy thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội. Kế hoạch CCHC năm 2024 ban hành kèm theo Quyết định số 3645/QĐ-UBND ngày 18/12/2023 của UBND tỉnh với chủ đề là “Sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”, triển khai trên 7 lĩnh vực và đặt ra 36 nhiệm vụ cụ thể. Trong đó, xác định “CCHC phải gắn với nâng cao nhận thức, đổi mới tư duy hành động, sáng tạo; đổi mới lề lối làm việc, phương thức quản trị hiện đại, trên cơ sở đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, thực hiện chuyển đổi số trong các hoạt động của cơ quan nhà nước”. 

Tại Kế hoạch CCHC năm 2024, UBND tỉnh đã chỉ đạo các cơ quan, đơn vị, địa phương thực hiện một số giải pháp trọng tâm về rà soát, tháo gỡ các vướng mắc về thể chế; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính gắn với chuyển đổi số; rà soát, cắt giảm các điều kiện kinh doanh; đổi mới quản lý, đẩy mạnh cải cách hoạt động thanh tra, kiểm tra nhằm tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh và đầu tư của doanh nghiệp, cải thiện mạnh mẽ hơn nữa về môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh, phù hợp với bối cảnh và xu thế phát triển.

UBND tỉnh đã kiện toàn Ban Chỉ đạo cải cách hành chính của tỉnh . Ngày 16/4/2024, Ban chỉ đạo CCHC ban hành Kế hoạch số 56/KH-BCĐ về hoạt động của Ban chỉ đạo năm 2024. Sau khi Bộ Nội vụ công bố Chỉ số CCHC tỉnh, ngày 17/5/2024, Ban chỉ đạo CCHC tỉnh tổ chức Hội nghị triển khai Kế hoạch số 56/KH-BCĐ và phân tích, kết quả Chỉ số cải cách hành chính (PAR INDEX), Chỉ số hài lòng về sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước (SIPAS), Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công (PAPI), Chỉ số năng lực cạnh tranh của tỉnh (PCI) tỉnh Quảng Bình năm 2023. Chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng ban chỉ đạo CCHC tỉnh đã có kết luận tại Thông báo số 2445/TB-VPUBND ngày 27/5/2024 của Văn phòng UBND tỉnh. 

Ngày 24/10/2024, Ban chỉ đạo CCHC tỉnh tổ chức Hội nghị rà soát việc triển khai thực hiện các nhiệm vụ quý III và 09 tháng đầu năm, triển khai kế hoạch hoạt động quý IV/2024, do đồng chí Chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng ban Chỉ đạo CCHC tỉnh chủ trì. Tại Hội nghị, Ban chỉ đạo đã đánh giá kết quả CCHC và yêu cầu các cấp, ngành, địa phương khẩn trương rà soát, xác định rõ những điểm nghẽn đang cản trở hoạt động CCHC, đề xuất các giải pháp cụ thể để tháo gỡ; ưu tiên giải quyết ngay những vấn đề nóng, cấp bách, khó khăn, vướng mắc của người dân và doanh nghiệp; giám sát chặt chẽ việc thực hiện TTHC; thường xuyên theo dõi tiến độ để đôn đốc các cơ quan, đơn vị. Trưởng ban chỉ đạo đã có kết luận Hội nghị theo Thông báo số 5498/TB-VPUBND ngày 06/11/2024 của Văn phòng UBND tỉnh.

Tiếp tục tập trung thực hiện hiệu quả nhiệm vụ cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh và tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến, mời gọi các nhà đầu tư trong và ngoài nước có tiềm lực, thương hiệu mạnh, ngày 20/3/2024, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 640/QĐ-UBND phê duyệt Chương trình xúc tiến đầu tư năm 2024; Kế hoạch hành động số 163/KH-UBND ngày 25/01/2024 thực hiện Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 05/01/2024 của Chính phủ thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2024. 

UBND tỉnh thường xuyên đôn đốc tiến độ giải ngân kế hoạch vốn đầu tư công năm 2024 và tổ chức nhiều hội nghị bàn các giải pháp đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công, trong đó yêu cầu các sở, ngành, đơn vị, địa phương nghiêm túc chấn chỉnh, rút kinh nghiệm công tác giải ngân vốn; khẩn trương đốc thúc các nhà thầu đẩy nhanh tiến độ thi công, nghiệm thu thanh toán ngay khi có khối lượng, ưu tiên giải ngân vốn kéo dài năm 2023 sang năm 2024 trước sau đó mới giải ngân kế hoạch vốn năm 2024. UBND tỉnh đã thành lập 03 Tổ Công tác tháo gỡ khó khăn vướng mắc, đôn đốc giải ngân đầu tư công do các Phó Chủ tịch UBND tỉnh làm Tổ trưởng để kịp thời tháo gỡ các vướng mắc nhằm đẩy nhanh tiến độ giải ngân chung của toàn tỉnh. 

Năm 2024, đã phê duyệt chủ trương đầu tư cho 37 dự án với tổng vốn đầu tư 10.476,83 tỷ đồng, bao gồm 24 dự án của nhà đầu tư có sử dụng đất với tổng vốn đầu tư 1874,83 tỷ đồng; 12 dự án (có nhà ở, đất ở) với tổng vốn đầu tư hơn 8.415 tỷ đồng và 01 Dự án FDI với tổng vốn đầu tư 187 tỷ đồng. Cấp đăng ký thành lập mới giấy chứng nhận đăng ký cho 536 doanh nghiệp với số vốn đăng ký hơn 6.800 tỷ đồng (giảm 6,4% số lượng doanh nghiệp và tương đương về số vốn đăng ký so với cùng kỳ). Đến nay, tổng số doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh đạt hơn 9.000 doanh nghiệp với số vốn đăng ký hơn 120.000 tỷ đồng (tăng 5,6% số lượng doanh nghiệp và tăng 5,4% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ).

Tổ chức nhiều đoàn xúc tiến du lịch, đầu tư tại Châu Âu, Hoa Kỳ nhằm giới thiệu những điểm đến thiên nhiên hấp dẫn, các tiềm năng, thế mạnh, cơ hội đầu tư vào tỉnh Quảng Bình, đã ký 04 Biên bản ghi nhớ (gồm 03 biên bản hợp tác phát triển du lịch và 01 biên bản hợp tác đầu tư) . Chủ động tham gia các sự kiện về xúc tiến đầu tư, tiếp tục duy trì quan hệ và cung cấp thông tin cho các tổ chức nước ngoài, hiệp hội doanh nghiệp nước ngoài như KOTRA (Hàn Quốc), JETRO (Nhật Bản), EUROCHAM (Châu Âu), thông qua các hoạt động xúc tiến, kêu gọi đầu tư, đã đón tiếp các nhà đầu tư đến khảo sát và tìm kiếm cơ hội đầu tư tại tỉnh. 

Thường xuyên đánh giá, đốc thúc, giám sát tiến độ đầu tư các dự án trên địa bàn; chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ các dự án và đề xuất phương án xử lý các dự án chậm tiến độ; tiếp tục làm việc với các nhà đầu tư có dự án chưa thuê đất, chậm tiến độ để thu hồi hoặc hướng dẫn xử lý. Năm 2024, đã tổ chức họp giám sát, đánh giá đầu tư đối với 59 dự án chưa hoàn thành thủ tục giao đất, cho thuê đất, chưa thực hiện nghĩa vụ ký quỹ đầu tư và đã tham mưu chấm dứt hoạt động đối với 20 dự án. Đối với 30 dự án còn lại, đã lập biên bản cam kết có thời hạn về việc nhà đầu tư phải thực hiện ký quỹ đầu tư và điều chỉnh tiến độ lần cuối để thực hiện dự án. 

2. Đánh giá, cập nhật tiến độ thực hiện Kế hoạch CCHC năm

Kế hoạch CCHC tỉnh năm 2024 đề ra 36 nhiệm vụ trên 7 lĩnh vực, đến nay đã hoàn thành 36/36 nhiệm vụ, đạt 100%. Các cơ quan, đơn vị trên địa bàn cũng đã hoàn thành 100% kế hoạch CCHC đề ra.

3. Công tác thông tin, tuyên truyền cải cách hành chính

UBND tỉnh ban hành Kế hoạch số 69/KH-UBND ngày 15/01/2024 tuyên truyền cải cách hành chính tỉnh năm 2024. Đã hoàn thành Kế hoạch, triển khai 12 phóng sự trên Đài Phát thanh-Truyền hình và 12 tin, bài trên Báo Quảng Bình. Thông qua các chuyên đề, chuyên mục CCHC đã góp phần nâng cao nhận thức và quyết tâm CCHC cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và sự tham gia của người dân để cải thiện kết quả CCHC tỉnh. 

UBND tỉnh đã tổ chức 04 cuộc đối thoại với doanh nghiệp, người dân nhằm đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến công tác CCHC, đồng thời giải đáp những vướng mắc, khó khăn cho các nhà đầu tư, khuyến khích doanh nghiệp phát triển.

Thực hiện chỉ đạo của Bộ Nội vụ về tổ chức Hội nghị tập huấn trực tuyến về cải cách hành chính cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức thực hiện công tác cải cách hành chính của các địa phương, tỉnh Quảng Bình đã triệu tập cán bộ, công chức tham gia Hội nghị đầy đủ.

Ngoài Kế hoạch tuyên truyền CCHC tỉnh, một số cơ quan, đơn vị tích cực tuyên truyền CCHC như Sở Giáo dục và Đào tạo tổ chức đối thoại với người dân về giải quyết thủ tục hành chính . Công an tỉnh tổ chức Hội nghị triển khai nhiệm vụ CCHC và chuyển đổi số năm 2024 trực tuyến từ điểm cầu Công an tỉnh đến Công an các huyện, thị xã, thành phố; phát sóng nhiều tin, bài tuyên truyền nội dung Đề án 06, thẻ căn cước công dân gắn chíp, đăng ký tài khoản định danh điện tử.

4. Công tác kiểm tra CCHC

UBND tỉnh ban hành Kế hoạch kiểm tra CCHC và quyết định thành lập Đoàn kiểm tra CCHC năm 2024 gồm 09 thành viên . Đã kiểm tra và hoàn thành Thông báo kết luận tại 11/11 cơ quan, đơn vị theo Kế hoạch đề ra, đạt 100%. 

5. Tổng hợp, cập nhật tiến độ, kết quả thực hiện các nhiệm vụ được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao 

Năm 2024, tỉnh được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao 326 nhiệm vụ đến nay đã hoàn thành 326 nhiệm vụ, đạt 100% đúng hạn.

II. KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÔNG TÁC CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH

1. Cải cách thể chế 

1.1. Kết quả xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật 

UBND tỉnh ban hành Kế hoạch số 29/KH-UBND ngày 08/01/2024 về công tác pháp chế năm 2024 và các văn bản, kế hoạch, chỉ đạo liên quan đến công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế ở địa phương ; hướng dẫn các sở, ngành, địa phương thực hiện nghiêm túc quy trình xây dựng văn bản QPPL đảm bảo chặt chẽ, khoa học, chuyên nghiệp và cơ bản theo trình tự, thủ tục trong ban hành văn bản QPPL. Năm 2024, đã chỉ đạo Sở Tư pháp thực hiện thẩm định 83 dự thảo văn bản QPPL thuộc thẩm quyền ban hành của UBND tỉnh và văn bản thuộc thẩm quyền ban hành của HĐND tỉnh do UBND tỉnh trình.

1.2. Kết quả tổ chức thi hành pháp luật và theo dõi thi hành pháp luật

Tăng cường theo dõi tình hình thi hành pháp luật, chú trọng chuyển trọng tâm từ hoàn thiện pháp luật sang tổ chức thi hành pháp luật. UBND tỉnh ban hành và triển khai Kế hoạch số 425/KH-UBND ngày 12/3/2024 theo dõi tình hình thi hành pháp luật năm 2024; hướng dẫn các sở, ngành, địa phương một số nội dung theo dõi tình hình thi hành pháp luật trong các lĩnh vực trọng tâm, liên ngành năm 2024.

UBND tỉnh ban hành Quyết định số 2129/QĐ-UBND ngày 25/7/2024 kiểm tra công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật; việc thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính năm 2024 trên địa bàn tỉnh . Qua kiểm tra, phát hiện một số sai sót của người có thẩm quyền trong công tác xử lý vi phạm hành chính, những vướng mắc, bất cập trong quy định pháp luật. Theo đó, đã hướng dẫn cho các cơ quan, địa phương khắc phục những sai sót, đồng thời kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung những quy định pháp luật còn chồng chéo, khó áp dụng trong công tác xử lý vi phạm hành chính. Hướng dẫn các sở, ngành, địa phương tổ chức rà soát, tổng hợp đề xuất các cơ quan Trung ương xử lý các quy định pháp luật còn mâu thuẫn, chồng chéo, không phù hợp với thực tiễn áp dụng. Qua rà soát đã kiến nghị các cơ quan Trung ương xử lý theo thẩm quyền 15 nhóm vấn đề có những quy định không còn phù hợp, gây cản trở sự phát triển kinh tế - xã hội.

Đã tổ chức khảo sát tình hình thi hành pháp luật về an toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh ; báo cáo kết quả khảo sát tình hình thi hành pháp luật về lao động, việc làm tại một số cơ quan, tổ chức trên địa bàn tỉnh ; triển khai thực hiện Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của BCH Trung ương Đảng về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN trong giai đoạn mới ; phối hợp với Viện Chiến lược và Khoa học pháp lý tổ chức Hội thảo về “Đánh giá thực trạng công tác theo dõi thi hành pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường” tại địa phương. Thực hiện quán triệt việc chấp hành pháp luật tố tụng hành chính và thi hành án hành chính. 

1.3. Kết quả thực hiện tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật 

Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật tỉnh ban hành Kế hoạch số 04/KH-HĐPH ngày 08/01/2023 về thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; hòa giải ở cơ sở; xây dựng cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật năm 2024; Kế hoạch số 05/KH-HĐPH ngày 08/01/2023 về hoạt động của Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật tỉnh Quảng Bình năm 2024. Thực hiện 06 chuyên mục Pháp luật và Đời sống trên Đài Phát thanh - Truyền hình Quảng Bình; 06 chuyên mục Phổ biến, giáo dục pháp luật đăng trên Báo Quảng Bình; In ấn, phát hành Bản tin Tư pháp, đăng tải nhiều lượt tin, bài trên Trang thông tin điện tử của Sở Tư pháp; Facbook: Phổ biến pháp luật (Quảng Bình) và Fanpage: Phổ biến, giáo dục pháp luật - Quảng Bình, cung cấp tài liệu tuyên truyền trên loa truyền thanh ở cơ sở trong đó có các nội dung về cải cách thể chế.

1.4. Kết quả kiểm tra, rà soát và hệ thống hóa văn bản QPPL 

UBND tỉnh ban hành và triển khai thực hiện Kế hoạch số 2722/KH-UBND ngày 28/12/2023 về công tác kiểm tra, rà soát văn bản QPPL năm 2024; xác định nhiệm vụ trọng tâm trong năm là tiếp tục kiểm tra, rà soát các văn bản QPPL có tác động trực tiếp, rộng rãi đến người dân và doanh nghiệp nhằm tạo môi trường pháp lý công khai, minh bạch, tạo hành lang pháp lý vững chắc, góp phần huy động, khai thác có hiệu quả các nguồn lực để thu hút đầu tư, phát triển hạ tầng đồng bộ, phát triển kinh tế - xã hội. Năm 2024, thực hiện tự kiểm tra 54 văn bản QPPL (đạt 100%); kiểm tra theo thẩm quyền 26 văn bản QPPL (đạt 100% số văn bản nhận được). Qua kiểm tra cho thấy, các văn bản QPPL được ban hành đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, thống nhất với hệ thống pháp luật hiện hành và phù hợp với tình hình phát triền kinh tế - xã hội của địa phương. 

Chỉ đạo các sở, ban, ngành rà soát 102 văn bản QPPL do HĐND, UBND tỉnh ban hành trong các lĩnh vực đầu tư, khoa học công nghệ, công thương, tổ chức bộ máy, tư pháp... Bên cạnh đó, thực hiện yêu cầu của các cơ quan có thẩm quyền ở Trung ương, đã tiến hành rà soát 16 văn bản QPPL . Qua rà soát đã kịp thời kiến nghị, đề xuất cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ hoặc thay thế đối với 12 văn bản QPPL trái pháp luật, mâu thuẫn, chồng chéo, hết hiệu lực, quy định không rõ ràng, không cụ thể, thiếu tính khả thi, không còn phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Đến nay, UBND tỉnh xử lý 10 văn bản, 02 văn bản còn lại đang được thực hiện quy trình xử lý.

Ngoài ra, UBND tỉnh rà soát văn bản QPPL do HĐND và UBND tỉnh ban hành liên quan đến Luật Đất đai năm 2024 . UBND tỉnh ban hành Quyết định số 122/QĐ-UBND ngày 18/01/2024 về công bố danh mục văn bản hết hiệu lực toàn bộ và một phần do HĐND tỉnh, UBND tỉnh ban hành được rà soát trong năm 2023 đảm bảo đúng thời hạn theo quy định tại Điều 157 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP, trong đó, đã công bố hết hiệu lực toàn bộ đối với 40 văn bản và công bố hết hiệu lực 01 phần đối với 22 văn bản.

Chỉ đạo các sở, ban, ngành cấp tỉnh, các huyện, thị xã, thành phố thực hiện nhiệm vụ hệ thống hoá văn bản QPPL . Theo đó, các sở, ban, ngành cấp tỉnh và UBND cấp huyện đã ban hành Kế hoạch thực hiện hệ thống hóa tại cơ quan, đơn vị, địa phương và tổ chức thực hiện có hiệu quả . Đối với các Nghị quyết của HĐND tỉnh, UBND tỉnh đã chỉ đạo các sở, ban, ngành phối hợp với Ban Pháp chế - HĐND tỉnh thực hiện rà soát, hệ thống hóa. Kết quả, Chủ tịch UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 412/QĐ-UBND ngày 26/02/2024 về việc công bố kết quả hệ thống hóa văn bản QPPL do HĐND, UBND tỉnh ban hành trong kỳ hệ thống hóa 2019 - 2023 đảm bảo đúng thời gian quy định; thực hiện đăng tải công khai kết quả hệ thống hóa trên Cổng thông tin điện tử, Công báo tỉnh, Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật theo quy định.

2. Cải cách thủ tục hành chính (TTHC)

Năm 2024, UBND tỉnh ban hành Kế hoạch hoạt động kiểm soát TTHC trên địa bàn tỉnh năm 2024, Kế hoạch hành động nâng cao chất lượng và hiệu quả cung cấp dịch vụ công trực tuyến trên địa bàn tỉnh Quảng Bình năm 2024 và nhiều văn bản chỉ đạo, điều hành công tác TTHC trên địa bàn tỉnh.

2.1. Kết quả rà soát, cắt giảm, đơn giản hóa TTHC

- Chỉ đạo các cơ quan, đơn vị, địa phương thực hiện rà soát và phát hiện các vướng mắc, bất cập của các quy định pháp luật về TTHC, đề xuất cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ TTHC. Đến nay, UBND tỉnh sửa đổi, bổ sung 70 TTHC trong lĩnh vực Đất đai, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn…  

- Thực hiện rà soát, đơn giản hóa TTHC nội bộ theo Quyết định số 1085/QĐ-TTg ngày 15/9/2022 của Thủ tướng Chính phủ và Kế hoạch số 2023/KH-UBND ngày 31/10/2022 của UBND tỉnh, đã phê duyệt phương án đơn giản hóa 56 TTHC nội bộ trong hệ thống hành chính nhà nước thuộc thẩm quyền giải quyết của các cấp chính quyền trên địa bàn tỉnh, bao gồm:

+ Phương án đơn giản TTHC nội bộ được quy định tại các văn bản của địa phương: 16 thủ tục.

+ Đề xuất phương án đơn giản hóa TTHC nội bộ được quy định tại các văn bản của Trung ương: 40 thủ tục.

- Triển khai thực thi phương án phân cấp, ủy quyền cho cơ quan thực hiện giải quyết 01 TTHC ; rà soát, bãi bỏ 01 Quyết định quy phạm pháp luật để thực hiện theo các văn bản QPPL của Trung ương . Qua rà soát đã loại bỏ ngay theo thẩm quyền những TTHC đang là rào cản cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp và đời sống người dân.

2.2. Tổng hợp, cập nhật số lượng TTHC thuộc thẩm quyền giải quyết

UBND tỉnh đã ban hành 117 Quyết định công bố với 1.116 TTHC, trong đó ban hành mới 365 TTHC, sửa đổi, bổ sung 492 TTHC và bãi bỏ 259 TTHC. Tính đến nay, tổng số TTHC thuộc thẩm quyền giải quyết tại địa phương được công khai trên Cổng dịch vụ công là 2.012 thủ tục, gồm 1.436 TTHC cấp tỉnh, 382 TTHC cấp huyện và 194 TTHC cấp xã (không bao gồm cả TTHC của cơ quan ngành dọc Trung ương). Ngay sau khi được công bố, các TTHC đã được cập nhật kịp thời lên Cơ sở dữ liệu quốc gia về TTHC. Đồng thời được kết nối, tích hợp, đồng bộ về Cổng Dịch vụ công, Hệ thống Thông tin một cửa điện tử, Cổng thông tin điện tử của tỉnh và các Trang thông tin điện tử của các sở, ban, ngành và UBND cấp huyện. Bên cạnh đó, 100% cơ quan trực tiếp giải quyết TTHC đã niêm yết công khai dưới 02 hình thức là Bảng niêm yết và Sổ hướng dẫn TTHC. Ngoài ra, tại Trung tâm Hành chính công tỉnh và các Trung tâm giao dịch một cửa cấp huyện, các TTHC còn được công khai trên màn hình điện tử.

Chỉ đạo các cấp, các ngành tập trung nguồn lực đẩy mạnh rà soát, tái cấu trúc quy trình giải quyết TTHC, cung cấp dịch vụ công trực tuyến. Trong năm 2024, đã phê duyệt và tái cấu trúc 555 quy trình dịch vụ công trực tuyến. 

Chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc các đơn vị, địa phương trực thuộc đẩy mạnh cung cấp dịch vụ công trực tuyến, thực hiện số hóa hồ sơ, kết quả giải quyết và tái sử dụng dữ liệu; bảo đảm 100% hồ sơ giải quyết tối thiếu phải trả kết quả bản điện tử và số hóa đơn, tờ khai TTHC. Từ ngày 01/01/2024 đến nay, toàn tỉnh đã thực hiện số hóa 272.655 hồ sơ (Bao gồm hồ sơ đầu vào và kết quả giải quyết) trong đó, hồ sơ số hóa kết quả giải quyết là 210.352 hồ sơ. Theo đó, tỷ lệ hồ sơ số hóa đạt 83,60%; tỷ lệ số hóa kết quả giải quyết TTHC đạt 64,49%. 

2.3. Kết quả thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông

a) Triển khai trên toàn tỉnh

- Nhằm tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả việc đổi mới cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết TTHC, UBND tỉnh đã chỉ đạo các cấp, các ngành tập trung nguồn lực đẩy nhanh số hóa hồ sơ, kết quả giải quyết TTHC, gắn việc số hóa với thực hiện nhiệm vụ của cán bộ, công chức, viên chức trong quá trình tiếp nhận, giải quyết TTHC; đẩy mạnh tái sử dụng dữ liệu đã được số hóa giữa các bộ, ngành, địa phương thông qua kết nối, chia sẻ dữ liệu; nâng cấp hệ thống hạ tầng công nghệ thông tin phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số quốc gia, bảo đảm an ninh, an toàn thông tin, đẩy mạnh kết nối, tích hợp, chia sẻ dữ liệu phục vụ chỉ đạo, điều hành và giải quyết TTHC, cung cấp dịch vụ công.

- Thường xuyên, tổ chức triển khai thực hiện việc xây dựng và tái cấu trúc quy trình nội bộ, quy trình nội bộ liên thông để thiết lập quy trình điện tử giải quyết hồ sơ TTHC. Trong năm 2024, đã phê duyệt tái cấu trúc 603 quy trình nội bộ, nội bộ liên thông theo thẩm quyền. Tính đến nay, đã xây dựng 100% quy trình nội bộ, nội bộ liên thông và thiết lập quy trình điện tử lên Hệ thống thông tin giải quyết TTHC tỉnh.

Tại các sở, ban, ngành, đến nay, đã giải quyết 163.284 hồ sơ, trong đó giải quyết đúng hạn 141.169 hồ sơ, đạt 86,5%. Tại UBND các huyện, thị xã, thành phố đã giải quyết 118.467 hồ sơ, trong đó giải quyết đúng hạn 112.289 hồ sơ, đạt 95%. Tại các xã, phường, thị trấn đã giải quyết 100.375 hồ sơ, trong đó giải quyết đúng hạn 96.180 hồ sơ, đạt 96%.

b) Triển khai tại Trung tâm Phục vụ hành chính công

Đến nay, tổng số TTHC được đưa vào thực hiện tại Trung tâm là 1.128  TTHC (trong đó 1.058 TTHC của các sở, ban, ngành thuộc UBND tỉnh, 43 TTHC của Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh, 15 TTHC của Công an tỉnh và 12 TTHC của Bảo hiểm xã hội tỉnh). Tất cả các TTHC nêu trên đã sử dụng lại thông tin, dữ liệu đã có trong cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành trong quá trình giải quyết TTHC. 

Hiện nay, các đơn vị tại Trung tâm đã thực hiện số hóa hồ sơ, giấy tờ, kết quả trong giải quyết TTHC theo quy định tại Nghị định số 107/2021/NĐ-CP, Quyết định số 468/QĐ-TTg và Kế hoạch số 1107/KH-UBND ngày 25/6/2021 của UBND tỉnh. Tính từ ngày bắt đầu triển khai quy trình số hóa 15/9/2021, đến nay 100% hồ sơ có thành phần phải số hóa theo quy định đã được công chức, viên chức tiếp nhận hồ sơ số hóa thành file điện tử và đính kèm đầy đủ trên Cổng Dịch vụ công/ Hệ thống thông tin giải quyết TTHC của tỉnh (trừ trường hợp tiếp nhận trên phần mềm riêng của Bộ chuyên ngành và chưa có yêu cầu phải số hóa, hoặc các TTHC có thành phần hồ sơ không thuộc yêu cầu phải số hóa). 

Kết quả số hóa năm 2024 (tính từ 01/01/2024 đến 08/12/2024), theo số liệu thống kê trên Hệ thống thông tin giải quyết TTHC của tỉnh, các đơn vị tại Trung tâm đã tiếp nhận 62.382 hồ sơ TTHC (bao gồm hồ sơ trực tiếp, trực tuyến và qua dịch vụ bưu chính công ích), cụ thể: 
+ Đã thực hiện số hóa 58.988 hồ sơ yêu cầu thực hiện quy trình số hóa hồ sơ, kết quả giải quyết TTHC, đạt tỉ lệ 94,55%; 

+ Đối với nhiệm vụ nhiệm vụ số hóa kết quả TTHC để trả kết quả bản điện tử cho cá nhân, tổ chức, các đơn vị đã thực hiện số hóa 30.722 hồ sơ, đạt tỉ lệ 49,2%. Kết quả số hóa hồ sơ, kết quả giải quyết TTHC đã được trả về Kho dữ liệu của công dân trên Cổng Dịch vụ công của tỉnh để công dân có thể tái sử dụng dữ liệu.

Năm 2024, toàn tỉnh đã tiếp nhận được 173 phản ánh, kiến nghị về TTHC (tại Văn phòng UBND tỉnh: 117 trường hợp; tại các cơ quan, đơn vị, địa phương: 56 trường hợp). Tất cả các phản ánh, kiến nghị được tiếp nhận đều đã phân công cơ quan có thẩm quyền xử lý đúng theo quy định của pháp luật; đồng thời đã được đăng tải công khai trên Hệ thống tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị trên Cổng dịch vụ công quốc gia theo đúng quy định.

3. Cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước 

3.1. Kết quả rà soát, hoàn thiện các quy định về vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức; sắp xếp, kiện toàn các cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp công lập

Tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 và Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII ; Nghị định số 24/2014/NĐ-CP ngày 04/4/2014 của Chính phủ; Nghị định số 107/2020/NĐ-CP ngày 14/9/2020 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 24/2014/NĐ-CP ngày 04/4/2014 của Chính phủ; Nghị định số 37/2014/NĐ-CP ngày 05/5/2014 của Chính phủ; Nghị định số 108/2020/NĐ-CP ngày 14/9/2020 của Chính phủ, sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 37/2014/NĐ-CP ngày 05/5/2014 của Chính phủ; UBND tỉnh đã chỉ đạo thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy theo chủ trương, kế hoạch đã đề ra, cụ thể: 

- Về cơ quan hành chính: Hiện cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh được tổ chức thành 20 sở bao gồm 17 cơ quan được tổ chức thống nhất theo quy định và 03 cơ quan quan được thành lập theo các quy định về tính đặc thù (Sở Du lịch, Sở Ngoại vụ, Ban Dân tộc); 02 tổ chức hành chính khác thuộc tỉnh (Ban Quản lý Khu Kinh tế tỉnh; Văn phòng Đoàn Đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân tỉnh). Có 125 phòng chuyên môn, nghiệp vụ và tương đương thuộc sở. Cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện, thành phố, thị xã là 99 cơ quan, bao gồm các cơ quan được tổ chức thống nhất và các cơ quan được thành lập theo phân loại đơn vị hành hành chính là phòng Kinh tế và Phòng Quản lý đô thị (thành phố Đồng Hới và thị xã Ba Đồn) và 03 Phòng Dân tộc được thành lập theo quy định đặc thù (Huyện Minh Hóa, Lệ Thủy, Bố Trạch).

UBND tỉnh, UBND cấp huyện đã ban hành quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn các cơ quan theo hướng dẫn của Bộ quản lý ngành, lĩnh vực, tiếp tục thực hiện sắp xếp các tổ chức bên trong đảm bảo quy định, đáp ứng các yêu cầu nhiệm vụ quản lý, tạo sự thống nhất trong giải quyết công việc; Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn có sự phân định rõ, quản lý theo hướng đa ngành, đa lĩnh vực nên đã tạo sự liên thông thống nhất trong hoạt động của ngành, lĩnh vực.

-  Về tình hình sắp xếp các đơn vị sự nghiệp công lập: Tiếp tục thực hiện theo Quyết định số 633/QĐ-UBND ngày 20/3/2024 của UBND tỉnh về ban hành Đề án sắp xếp, kiện toàn các đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh Quảng Bình; các cơ quan, đơn vị, địa phương thực hiện đảm bảo số lượng, lộ trình theo Kế hoạch và quyết định của UBND tỉnh đã đề ra; năm 2024 giảm 12 đơn vị  và 01 đơn vị đang thực hiện giảm trong tháng 12/2024.

 Các đơn vị sự nghiệp công lập sau sắp xếp, tổ chức lại đã phát huy được vai trò và nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ sự nghiệp công; các đơn vị sắp xếp đã đi vào ổn định, đảm bảo hoạt động hiệu quả; chế độ chính sách của viên chức được đảm bảo; chưa có phản ánh, kiến nghị về khó khăn, vướng mắc sau sắp xếp. 

- Về sắp xếp đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã: 

Kế thừa kết quả sắp xếp đơn vị hành chính giai đoạn 2019 - 2021 ; căn cứ các Nghị quyết của Bộ Chính trị, Quốc hội, Ủy Ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ và hướng dẫn của bộ, ban, ngành Trung ương, UBND tỉnh báo cáo cơ quan có thẩm quyền thành lập Ban chỉ đạo sắp xếp đơn vị hành chính cấp huyện cấp xã tỉnh giai đoạn 2023 - 2025; tham mưu Kế hoạch triển khai và quyết liệt trong công tác chỉ đạo các sở, ngành, địa phương rà soát, xác định đơn vị hành chính thuộc diện sắp xếp, xây dựng Phương án tổng thể và Đề án sắp xếp đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã giai đoạn 2023 - 2025 và trình Bộ Nội vụ, Chính phủ. Chỉ đạo quyết liệt các địa phương căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 3 của Nghị quyết số 35/2023/UBTVQH15 để tìm kiếm các nguồn tư liệu, bổ sung giải trình có cơ sở đối với số lượng lớn các đơn vị hành chính cấp xã thuộc diện phải sắp xếp nhưng không thực hiện sắp xếp hoặc lùi thời điểm sắp xếp sang giai đoạn 2026 - 2030.

Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 1242/NQ-UBTVQH15 ngày 24/10/2024 về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã giai đoạn 2023 - 2025 của tỉnh Quảng Bình. Sau sắp xếp giai đoạn 2023 - 2025, tỉnh Quảng Bình còn 145 đơn vị hành chính cấp xã (122 xã, 15 phường, 08 thị trấn).

3.2. Đánh giá tình hình quản lý, sử dụng biên chế công chức, viên chức

Năm 2024, tổng số biên chế khối chính quyền được giao là 21.679 biên chế, thực hiện tinh giản 373 biên chế (trong đó, biên chế công chức là 1.699 biên chế, giảm 23 biên chế so với năm 2023; số lượng người làm việc hưởng lương ngân sách nhà nước là 19.980 biên chế, giảm 350 biên chế so với năm 2023); năm 2024, đã điều chỉnh Quyết định biên chế tại một số cơ quan, đơn vị do thay đổi tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ quyền hạn, điều chỉnh biên chế sự nghiệp hưởng lương nguồn thu sự nghiệp của đơn vị tại Trung tâm nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; điều chỉnh biên chế công chức, số lượng người làm việc hưởng lường từ ngân sách nhà nước (do tổ chức lại Bệnh viện Y Dược cổ truyền, Chi cục Chăn nuôi và Thú y thuộc Sở nông nghiệp và PTNT). Bổ sung 291 biên chế sự nghiệp giáo dục và đào tạo cho các cơ sở mầm non và phổ thông công lập trên địa bàn tỉnh năm học 2023 - 2024. Giao 914 hợp đồng lao động giảng dạy tại các cơ sở giáo dục mầm non và phổ thông công lập trên địa  bàn tỉnh năm học 2024 - 2025.

UBND tỉnh chỉ đạo Sở Nội vụ quyết định giao biên chế công chức, số lượng người làm việc năm 2024 cho các cơ quan, đơn vị, địa phương và các tổ chức hội có tính chất đặc thù cấp tỉnh, cấp huyện; Quyết định điều chỉnh biên chế sự nghiệp, bổ sung biên chế sự nghiệp giáo dục - đào tạo của các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc các sở, UBND các huyện, thị xã, thành phố.

Thực hiện Nghị định số 29/2023/NĐ-CP ngày 03/6/2023 của Chính phủ; ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Chính phủ tại Công văn số 3174/VPCP-TCCV ngày 10/5/2024 của Văn phòng Chính phủ, UBND tỉnh đã thực hiện tinh giản biên chế đối với 56 trường hợp.

3.3. Đánh giá kết quả thực hiện các quy định về phân cấp quản lý nhà nước giữa các cấp chính quyền

Thực hiện Nghị quyết số 04/NQ-CP ngày 10/01/2022 về đẩy mạnh phân cấp trong quản lý nhà nước và Nghị quyết số 99/NQ-CP ngày 24/6/2020 của Chính phủ và các văn bản hướng dẫn thi hành của Bộ Nội vụ, UBND tỉnh đã chỉ đạo các cơ quan, đơn vị, địa phương tiếp tục thực hiện phân cấp thẩm quyền, trách nhiệm giữa các cấp chính quyền trên cơ sở bảo đảm sự phù hợp giữa chức năng, nhiệm vụ với năng lực và điều kiện thực tế của từng cấp, quy định rõ cơ chế thực hiện phân cấp, ủy quyền quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực nhằm tăng cường chất lượng, hiệu lực và hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước, gắn phân cấp, phân quyền với CCHC nhằm giảm phiền hà, giải quyết nhanh gọn TTHC cho công dân và doanh nghiệp trên 12 ngành, lĩnh vực tại Nghị quyết; nhất là đối với ngành, lĩnh vực ngành nội vụ như: Tổ chức bộ máy hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập; tiền lương của cán bộ, công chức, viên chức, vị trí việc làm. Hiện nay, UBND tỉnh đang chỉ đạo các cơ quan, đơn vị, địa phương tiếp tục rà soát các quy định có liên quan để xây dựng đề án trình Hội đồng nhân dân tỉnh thông qua và ban hành quyết định phân cấp quản lý nhà nước trên địa bàn tỉnh đảm bảo theo đúng quy định.

UBND tỉnh đã thực hiện phân cấp thẩm quyền, trách nhiệm giữa các cấp chính quyền trên cơ sở bảo đảm sự phù hợp giữa chức năng, nhiệm vụ với năng lực và điều kiện thực tế của từng cấp nhằm tăng cường chất lượng, hiệu lực và hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước. Gắn phân cấp, phân quyền với CCHC nhằm giảm phiền hà, giải quyết nhanh gọn TTHC cho công dân và doanh nghiệp trên nhiều lĩnh vực, nhất là về đất đai, đầu tư, xây dựng, thành lập doanh nghiệp.

4. Cải cách chế độ công vụ

4.1. Kết quả xây dựng, ban hành quy định về vị trí việc làm của công chức, viên chức 

Căn cứ Nghị định số 62/2020/NĐ-CP ngày 01/8/2020 của Chính phủ về vị trí việc làm và biên chế công chức; Nghị định số 106/2020/NĐ-CP ngày 10/9/2020 của Chính phủ về vị trí việc làm và số lượng người làm việc trong đơn vị sự nghiệp; các Thông tư hướng dẫn của Bộ Nội vụ và quy định, hướng dẫn có liên quan; UBND tỉnh chỉ đạo các cấp xây dựng và phê duyệt Đề án vị trí việc làm của các cơ quan, đơn vị. Đến nay, UBND tỉnh đã phê duyệt vị trí việc làm và cơ cấu ngạch công chức của 30/30 cơ quan, tổ chức hành chính (đạt 100%), trong đó: 20 cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh (trong đó có các Chi cục thuộc Sở); 02 tổ chức hành chính khác: Văn phòng Đoàn Đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân tỉnh, Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh) 08 huyện, thị xã, thành phố; đã phê duyệt vị trí việc làm và cơ cấu chức danh nghề nghiệp viên chức đối với 07  đơn vị sự nghiệp công lập; chỉ đạo các sở, ban, ngành UBND cấp huyện phê duyệt vị trí việc làm cho các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc quyền quản lý.

Hướng dẫn các đơn vị sự nghiệp, Hội đặc thù cấp tỉnh, cấp huyện xây dựng Đề án vị trí việc làm và thẩm định, phê duyệt Đề án vị trí việc làm theo quy định phân cấp quản lý. 

4.2. Kết quả thực hiện tuyển dụng, điều động công chức, viên chức

Năm 2024, Ban Cán sự Đảng UBND tỉnh đã ban hành quy định về phân cấp quản lý và bổ nhiệm cán bộ (Quy định số 76-QĐ/BCSĐ ngày 05/3/2024 về phân cấp quản lý và bổ nhiệm cán bộ ). Căn cứ các quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước, UBND tỉnh đã thực hiện công tác quản lý, sử dụng, tuyển dụng cán bộ, công chức, viên chức theo đúng quy định.

UBND tỉnh quyết định tiếp nhận 17 công chức; 25 viên chức; thuyên chuyển 12 công chức, 09 viên chức; điều động 06 công chức. Đồng ý chủ trương tiếp nhận vào công chức để bổ nhiệm giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý đối với 03 trường hợp.

Chỉ đạo Sở Nội vụ thẩm định Kế hoạch tuyển dụng viên chức tại các đơn vị sự nghiệp thuộc các Sở: Du lịch, Tài nguyên và Môi trường, Văn hóa và Thể thao, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; thẩm định kết quả tiếp nhận vào làm viên chức tại Trung tâm Dịch vụ nông nghiệp huyện Quảng Ninh; Trung tâm Huấn luyện và Thi đấu Thể dục thể thao thuộc Sở Văn hóa và Thể thao.

4.3. Kết quả thực hiện bổ nhiệm, đề bạt công chức, viên chức

Căn cứ các quy định của pháp luật và phân cấp quản lý cán bộ của tỉnh để thực hiện quy trình điều động, bổ nhiệm; bổ nhiệm lại; kéo dài thời gian giữ chức vụ đối với 34 trường hợp diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Thường trực Tỉnh ủy quản lý và diện Ban Cán sự Đảng UBND tỉnh quản lý, trong đó:

- Diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Thường trực Tỉnh ủy quản lý: 21 trường hợp, gồm: Điều động, bổ nhiệm 01 trường hợp; Bổ nhiệm 04 trường hợp; Bổ nhiệm lại 11 trường hợp; kéo dài thời gian giữ chức vụ 02 trường hợp; cử kiêm nhiệm 03 trường hợp.

- Diện Ban Cán sự Đảng UBND tỉnh quản lý: 13 trường hợp, trong đó: điều động, bổ nhiệm 02 trường hợp; Bổ nhiệm 05 trường hợp; Bổ nhiệm lại 05 trường hợp; Kéo dài thời gian giữ chức vụ 01 trường hợp.

4.4. Kết quả thực hiện thi nâng ngạch công chức, thăng hạng viên chức 

Ban Cán sự Đảng UBND tỉnh đã báo cáo, xin ý kiến Ban Thường vụ Tỉnh ủy xét nâng ngạch đối với 11 trường hợp giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý; UBND tỉnh đã quyết định phê duyệt danh sách công chức đủ điều kiện xét nâng ngạch do có thành tích trong hoạt động công vụ đối với 04 trường hợp; chỉ đạo Sở Nội vụ rà soát nhu cầu, tổng hợp danh sách viên chức đề nghị thăng hạng chức danh nghề nghiệp tại các cơ quan, đơn vị, địa phương.

4.5. Tình hình chấp hành kỷ luật, kỷ cương hành chính của cán bộ, công chức, viên chức

Ban Thường vụ Tỉnh ủy, UBND tỉnh chỉ đạo các cơ quan, đơn vị trong toàn tỉnh quán triệt cán bộ, công chức, viên chức thực hiện Chỉ thị số 20-CT/TU ngày 28/02/2022 về tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính và văn hóa công sở, nghiêm túc chấp hành kỷ luật, kỷ cương, trách nhiệm thực thi công vụ, thái độ giao tiếp, ứng xử, phục vụ nhân dân; Công văn số 276/UBND-TH ngày 02/3/2022 của UBND tỉnh về việc tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính và xây dựng văn hóa công sở. Tăng cường kiểm tra việc chấp hành kỷ luật, kỷ cương hành chính và văn hóa công sở. Năm 2024, đã tiến hành  17 cuộc kiểm tra việc chấp hành kỷ luật, kỷ cương hành chính và văn hóa công sở; 03 cuộc thanh tra liên quan công tác Nội vụ tại các cơ quan, đơn vị.

4.6. Kết quả thực hiện đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức

UBND tỉnh ban hành Quyết định số 373/QĐ-UBND ngày 07/02/2024 giao Kế hoạch và phân bổ kinh phí đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức năm 2024. Đến nay, đã hoàn thành 47 lớp cho 5.209 học viên, đạt 100%. 

Cử 04 cán bộ, công chức thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy và diện Ban cán sự Đảng UBND tỉnh quản lý tham gia các khóa bồi dưỡng QLNN chương trình Chuyên viên cao cấp; 09 người tham gia khóa bồi dưỡng kỹ năng lãnh đạo cấp sở; 01 người tham gia lớp bồi dưỡng ngạch thanh tra viên cao cấp; bồi dưỡng lãnh đạo, quản lý cấp phòng cho 60 người; bồi dưỡng đối với công chức ngạch chuyên viên chính: 54 người; bồi dưỡng ngạch chuyên viên: 59 người. Cử 01 cán bộ tham gia chương trình đào tạo Tiến sỹ.

4.7. Tình hình ban hành và kết quả thực hiện chính sách thu hút người tài năng vào làm việc tại cơ quan nhà nước

Việc thu hút nhân tài, người có trình độ chuyên môn cao, sinh viên tốt nghiệp đại học loại giỏi, xuất sắc được thực hiện đúng quy định tại Nghị định số 140/2017/NĐ/CP ngày 05/12/2017 của Chính phủ về chính sách thu hút, tạo nguồn cán bộ từ sinh viên tốt nhiệp xuất sắc, cán bộ khoa học trẻ. Năm 2024, Sở Nội vụ đã đề nghị các đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện thông báo tuyển dụng bằng hình thức thu hút theo Nghị định 140/2017/NĐ-CP đối với 08 chỉ tiêu; tuy nhiên, không có trường hợp nào đủ điều kiện thu hút theo Nghị định số 140/2017/NĐ-CP nộp hồ sơ đăng ký dự tuyển.

5. Cải cách tài chính công 

5.1. Kết quả thực hiện các quy định quản lý tài chính - ngân sách 

Dự toán giao thu ngân sách tại địa bàn năm 2024 Trung ương giao là 6.070 tỷ đồng; HĐND tỉnh giao là 6.070 tỷ đồng; Năm 2024 thu ngân sách tại địa bàn đạt 6.001 tỷ đồng, đạt 98,8% so với dự toán Trung ương giao; đạt 98,35% dự toán địa phương giao; bằng 127,5% so với thực hiện cùng kỳ năm trước. Trong đó:

 - Thu cân đối ngân sách đạt 4.452 tỷ đồng, đạt 82,9% dự toán Trung ương giao; dự toán địa phương giao, bằng 108,4% so với thực hiện cùng kỳ năm trước . Thu thuế xuất nhập khẩu đạt 1.495,3 tỷ đồng, đạt 213,6 % so với dự toán Trung ương giao, dự toán địa phương giao, bằng 265,7% so với thực hiện cùng kỳ năm trước.

Dự toán chi NSNN năm 2024, HĐND tỉnh quyết định là 14.049 tỷ đồng. Chi ngân sách địa phương thực hiện 13.652,3 tỷ đồng, bằng 97,85% dự toán Trung ương giao; 98,18% dự toán HĐND tỉnh giao, bằng 100,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: 

- Các khoản chi đầu tư phát triển từ nguồn vốn cân đối ngân sách địa phương: Thực hiện 6.020,8 tỷ đồng, bằng 96,7% dự toán TW giao; 66,3% dự toán địa phương giao; bằng 83,3% so với cùng kỳ năm trước.

 - Chi thường xuyên: Thực hiện 7.631,5 tỷ đồng, đạt 103,2% so với dự toán Trung ương giao, 88,25% so với dự toán HĐND tỉnh giao; bằng 119,7% so với thực hiện cùng kỳ năm trước.

Kết quả thực hiện Kế hoạch giải ngân vốn đầu tư công: Lũy kế thanh toán vốn từ đầu năm đến nay 3.468.353 triệu đồng; đạt 50,27% so vói kế hoạch giao. 

Kết quả thực hiện kiến nghị kiểm toán ngân sách nhà nước: Tổng số kiến nghị của niên độ là 117.921.174.796 đồng. Trong đó: số kiến nghị xử lý về tài chính 116.011.957.307 đồng, số kiến nghị khác 1.909.217.489 đồng. Số đã thực hiện kiến nghị kiểm toán đến nay đạt tỷ lệ thực hiện 100%.

5.2. Kết quả thực hiện quy định quản lý, sử dụng tài sản công 

UBND tỉnh tiếp tục theo dõi các cơ quan, đơn vị thực hiện Công văn số 1625/VPUBND-TH ngày 25/4/2023 về thực hiện Nghị quyết số 74/2022/QH15 ngày 15/11/2022 của Quốc hội về đẩy mạnh việc thực hiện chính sách, pháp luật về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Chỉ đạo Sở Tài chính thẩm định đề án cho thuê tài sản của 12 đơn vị, có ý kiến hoặc có quyết định thanh lý theo đề nghị của 46 đơn vị theo đúng quy định. Về phương án sắp xếp, xử lý tài sản công tổng thể theo Nghị định số 167/2017/NĐ-CP ngày 31/12/2017 của Chính phủ: Thực hiện kiểm tra hiện trạng cơ sở nhà đất của các đơn vị đề nghị thực hiện phương án sắp xếp lại, xử lý tài sản theo quy định, phê duyệt 17 cơ sở nhà đất theo hình thức giữ lại tiếp tục sử dụng, điều chuyển, chuyển giao và bán tài sản trên đất, chuyển nhượng quyền sử dụng đất (trong đó, điều chỉnh phương án sắp xếp lại, xử lý nhà đất đã phê duyệt 15 cơ sở nhà đất); UBND tỉnh quyết định thanh lý 33 xe; điều chuyển 16 xe từ đơn vị thừa sang đơn vị thiếu; thu hồi đối với 02 xe.

5.3. Kết quả thực hiện cơ chế tự chủ tài chính tại các đơn vị sự nghiệp công lập

UBND tỉnh tiếp tục triển khai thực hiện Nghị định số 60/2021/NĐ-CP ngày 21/6/2021 về Quy định cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập, Năm 2024, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 2775/QĐ-UBND ngày 03/10/2024 về việc giao quyền tự chủ tài chính cho các đơn vị sự nghiệp công thuộc cấp tỉnh quản lý giai đoạn 2024-2025. 

Thực hiện Thông tư số 56/2022/TT-BTC ngày 16/9/2022 của Bộ Tài chính hướng dẫn một số nội dung về cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập; xử lý tài sản, tài chính khi tổ chức lại, giải thể đơn vị sự nghiệp công lập. UBND tỉnh chỉ đạo các sở, ban, ngành, các đơn vị sự nghiệp công lập cấp tỉnh, UBND các huyện, thị xã, thành phố rà soát lại phương án tự tự tài chính giai đoạn 2023-2025 bảo đảm đúng chủ trương của Đảng, quy định của Nhà nước và phù hợp với tình hình thực tiễn của đơn vị; đẩy mạnh việc thực hiện cải cách tài chính công, nâng cao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các đơn vị sự nghiệp công lập theo chủ trương của Chính phủ trong giai đoạn mới về sắp xếp, kiện toàn, nâng cao hiệu quả hoạt động các đơn vị sự nghiệp công lập giai đoạn 2021 - 2030 của tỉnh Quảng Bình. 

6. Xây dựng và phát triển chính quyền điện tử, chính quyền số

6.1. Kết quả hoàn thiện thể chế phục vụ xây dựng, phát triển chính quyền điện tử, chính quyền số, hạ tầng kĩ thuật

UBND tỉnh, Ban Chỉ đạo Chuyển đổi số tỉnh đã ban hành nhiều văn bản để chỉ đạo, điều hành, tổ chức thực hiện chuyển đổi số, như Kế hoạch số 2656/KH-UBND ngày 22/12/2023 về thực hiện chuyển đổi số tỉnh Quảng Bình năm 2024; Chương trình số 40/CTr-BCĐ ngày 14/3/2024 của Ban Chỉ đạo Chuyển đổi số tỉnh về Chương trình công tác của Ban Chỉ đạo năm 2024; Công văn số 483/UBND-KSTT ngày 14/03/2024 của UBND tỉnh về việc tăng cường đẩy mạnh tái cấu trúc quy trình điện tử giải quyết TTHC, dịch vụ công trực tuyến theo Chỉ thị 27/CT-TTg; Kế hoạch hành động số 888/KH-UBND ngày 17/5/2024 của UBND tỉnh về việc nâng cao chất lượng hiệu quả cung cấp dịch vụ công trực tuyến trên địa bàn tỉnh Quảng Bình năm 2024; Quyết định số 2751/QĐ-UBND ngày 01/10/2024 của UBND tỉnh ban hành Danh mục cơ sở dữ liệu dùng chung và Danh mục dữ liệu mở tỉnh Quảng Bình.

6.2. Kết quả xây dựng, phát triển các hệ thống nền tảng, các dữ liệu, ứng dụng, dịch vụ nội bộ; ứng dụng, dịch vụ phục vụ người dân, doanh nghiệp

Trung tâm dữ liệu điện tử của tỉnh được triển khai phục vụ Chuyển đổi số theo hướng công nghệ điện toán đám mây, cơ bản đáp ứng đầy đủ các tiêu chí, chỉ tiêu kỹ thuật theo quy định, sẵn sàng kết nối với Nền tảng điện toán đám mây Chính phủ theo mô hình do Bộ Thông tin và Truyền thông hướng dẫn; được vận hành cơ bản ổn định phục vụ triển khai, bảo đảm hạ tầng phục vụ cho 12 nền tảng, hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu dùng chung của tỉnh và 18 hệ thống phần mềm, cơ sở dữ liệu chuyên ngành của các cơ quan, đơn vị. 

Nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu cấp tỉnh được xây dựng bước đầu; đã thực hiện kết nối, liên thông các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu trong tỉnh và đã thực hiện kết nối, liên thông với nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu quốc gia, Trục liên thông văn bản quốc gia, Trục kết nối dữ liệu Cổng dịch vụ công quốc gia, hệ thống hỗ trợ thanh toán quốc gia PayGov, thanh toán nghĩa vụ tài chính TTHC đất đai, cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký kinh doanh, về dân cư… Số lượng dịch vụ dữ liệu số được Nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu tỉnh kết nối, khai thác từ Nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu quốc gia là 08 dịch vụ.

 Hệ thống hội nghị truyền hình chuyên dùng của tỉnh đã bảo đảm kết nối thông suốt từ Trung ương đến huyện. Hệ thống hội nghị truyền hình chuyên dùng của tỉnh duy trì ổn định, bảo đảm kết nối thông suốt từ Trung ương đến cấp xã; cho phép cấp huyện chủ động tổ chức cuộc họp với cấp xã. 

Cổng thông tin điện tử tỉnh tiếp tục được mở rộng và hoạt động ổn định. Tỷ lệ trang thông tin điện tử cấp sở và cấp huyện cung cấp, cập nhật thông tin thường xuyên là 100% (21/21 và 8/8); tỷ lệ trang thông tin điện tử cấp xã cung cấp, cập nhật thông tin thường xuyên gần 80%. 

Hệ thống quản lý văn bản và điều hành duy trì khai thác, sử dụng tại các cơ quan thuộc UBND tỉnh, UBND cấp huyện, UBND cấp xã và mở rộng ra một số đoàn thể, doanh nghiệp thuộc tỉnh, cơ quan trung ương đóng trên địa bàn tỉnh. Tỷ lệ văn bản, hồ sơ công việc được xử lý trên môi trường mạng tại cơ quan cấp tỉnh là 99%, cấp huyện là 98%, cấp xã là 88%. Tỷ lệ văn bản được ký số đầy đủ, đúng quy định của UBND tỉnh và sở, ban, ngành thuộc UBND tỉnh là 99,1%; của UBND cấp huyện là 98%; của UBND cấp xã là 96%. Tỷ lệ cơ quan cấp sở, cấp huyện, cấp xã khai thác, sử dụng Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính (Cổng dịch vụ công/hệ thống thông tin một cửa điện tử) tập trung của tỉnh đạt 100%. 

Hệ thống tiếp nhận và xử lý phản ánh hiện trường duy trì ứng dụng trên địa bàn toàn tỉnh. Trong năm đã tiếp nhận, xử lý gần 400 phản ánh, tỷ lệ người dân đánh giá hài lòng và chấp nhận được là 85%.

Các sở, ban, ngành, địa phương tiếp tục thực hiện tiếp nhận, kế thừa, phát triển, sử dụng các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu đã được Trung ương đầu tư, xây dựng hoặc hướng dẫn triển khai tại tỉnh (Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, hộ tịch, đất đai, đăng ký doanh nghiệp, dân số, tài chính, bảo hiểm...); tích cực tham mưu xây dựng, triển khai ứng dụng có hiệu quả các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu dùng chung, chuyên ngành của tỉnh, thường xuyên cập nhật, làm mới, làm giàu dữ liệu phục vụ quản lý, điều hành, giải quyết dịch vụ công và từng bước cung cấp dữ liệu mở cho cộng đồng xã hội.

6.3. Kết quả xây dựng, phát triển đô thị thông minh; cung cấp dịch vụ công trực tuyến toàn trình

Hệ thống thông tin giải quyết TTHC tỉnh duy trì kết nối và cung cấp tiện ích “Tra cứu thông tin công dân từ cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư”; công khai cung cấp 1.217 dịch vụ công trực tuyến, trong đó có 802 dịch vụ công trực tuyến toàn trình và 415 dịch vụ công trực tuyến một phần. Đã hoàn thành chức năng tự động tiếp nhận hồ sơ trực tuyến; kết nối, chia sẻ dữ liệu Phần mềm dịch vụ công liên thông do Bộ Công an quản lý; kết nối Kho dữ liệu điện tử của tổ chức, cá nhân trên Hệ thống thông tin giải quyết TTHC của tỉnh với Kho quản lý dữ liệu điện tử của tổ chức, cá nhân trên Cổng dịch vụ công quốc gia; triển khai thử nghiệm Chat bot (Trợ lý ảo) hỗ trợ người dân, doanh nghiệp tiếp cận, sử dụng dịch vụ công trên môi trường mạng; hoàn thành chức năng kết nối, tích hợp dữ liệu đánh giá Bộ chỉ số chỉ đạo, điều hành và đánh giá chất lượng phục vụ người  dân, doanh nghiệp theo Quyết định số 766/QĐ-TTg… Phân hệ chức năng chứng thực điện tử của tỉnh đã hoàn thành xây dựng và đưa vào ứng dụng trên toàn tỉnh, thay thế cho ứng dụng trực tiếp trên Cổng dịch vụ công quốc gia. Tỷ lệ hồ sơ trực tuyến phát sinh trên Cổng dịch vụ công tỉnh đạt 85,6%.

Trung tâm điều hành thông minh tỉnh tiếp tục duy trì 10 phần mềm, dịch vụ đô thị thông minh. Các Trung tâm điều hành thông minh thành phố Đồng Hới, thị xã Ba Đồn duy trì hoạt động ổn định, cung cấp một số ứng dụng đô thị thông minh thiết thực cho người dân, doanh nghiệp.

III. ĐÁNH GIÁ CHUNG

1. Mặt tích cực

Năm 2024, UBND tỉnh, Chủ tịch UBND tỉnh và Ban chỉ đạo CCHC tỉnh đã quan tâm chỉ đạo, điều hành công tác CCHC, xác định nhiệm vụ CCHC là trọng tâm, lâu dài, liên tục; đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, điều hành, tổ chức các Hội nghị để triển khai nhiệm vụ CCHC. UBND tỉnh ban hành nhiều Kế hoạch, văn bản chỉ đạo CCHC năm 2024 bám sát các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp theo Chương trình tổng thể CCHC nhà nước giai đoạn 2021-2030. Đồng thời, ban hành các văn bản chỉ đạo trên các lĩnh vực cải cách thể chế, thủ tục hành chính, tổ chức bộ máy, chế độ công vụ, tài chính công, xây dựng chính quyền điện tử. Các cơ quan, đơn vị trong toàn tỉnh đã tăng cường nhận thức, quán triệt đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức triển khai hành động; thực hiện nhiệm vụ CCHC với tinh thần phục vụ người dân, phấn đấu vì mục tiêu làm hài lòng người dân.

Các quy định chồng chéo, mâu thuẫn được UBND tỉnh chỉ đạo các sở, ngành, UBND các huyện, thị xã, thành phố rà soát bãi bỏ hoặc sửa đổi cho phù hợp. Thủ tục hành chính cắt giảm dần các khâu, công đoạn rườm rà. Đẩy mạnh thực hiện giải quyết thủ tục hành chính trên môi trường điện tử. Các ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số ngày càng mạnh mẽ, giúp cho người dân, tổ chức và doanh nghiệp tiết kiệm thời gian giải quyết công việc. Việc giải quyết thủ tục hành chính nhằm nâng cao mức độ hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước; đã xây dựng một nền văn hóa công vụ làm việc trách nhiệm, hiệu quả, phòng chống các biểu hiện sách nhiễu, phiền hà. 

2. Những tồn tại, hạn chế, nguyên nhân

Một số sở, ngành vẫn chưa sâu sát về cải cách hành chính nên việc chỉ đạo, đôn đốc có nơi, có lúc thiếu quyết liệt. Trách nhiệm của cán bộ, công chức ở một số cơ quan, đơn vị, địa phương có nơi, có lúc chưa cao, vẫn có hiện tượng sợ sai, sợ trách nhiệm nên vẫn né tránh, đùn đẩy. Tổ chức bộ máy còn cồng kềnh, một số đơn vị trùng lặp chức năng, nhiệm vụ dẫn đến giải quyết thủ tục hành chính phải qua nhiều khâu, nhiều tầng nấc dẫn đến gây mất thời gian cho người dân, tổ chức và doanh nghiệp.

IV. PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ CÔNG TÁC CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH NĂM 2025

1. Xây dựng Kế hoạch CCHC năm 2025 và các Kế hoạch tuyên truyền, kiểm tra CCHC nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác CCHC góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, hoàn thành các mục tiêu mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2020 – 2025 đã đề ra.

2. Triển khai Chương trình, kế hoạch xây dựng, kiểm tra, rà soát văn bản QPPL của HĐND, UBND tỉnh năm 2025 đúng tiến độ, chất lượng; thực hiện nghiêm túc, đầy đủ quy trình xây dựng, ban hành văn bản QPPL theo quy định của Luật Ban hành văn bản QPPL.

3. Rà soát, đơn giản hóa TTHC trong các ngành, lĩnh vực; kiểm soát chặt chẽ việc ban hành TTHC.

4. Triển khai sắp xếp, kiện toàn bộ máy, sáp nhập các cơ quan, đơn vị theo đúng tinh thần cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức bộ máy của cả hệ thống chính trị theo tinh thần chỉ đạo của Trung ương và Tỉnh ủy.

5. Nâng cao chất lượng hoạt động công vụ, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, năng lực và tinh thần phục vụ người dân.

6. Xây dựng, triển khai Kế hoạch tài chính, thu ngân sách năm 2025. Nâng cao mức tự chủ kinh phí chi thường xuyên tại các đơn vị sự nghiệp công lập.

7. Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động công vụ, thiết lập quy trình điện tử, số hóa trong giải quyết thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp.

8. Tập trung tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp, tổ chức các cuộc đối thoại với doanh nghiệp để nắm bắt tình hình, cắt giảm các thủ tục, rào cản cho phát triển doanh nghiệp.

Trên đây là kết quả CCHC tỉnh Quảng Bình năm 2024 và phương hướng, nhiệm vụ năm 2025, UBND tỉnh báo cáo Bộ Nội vụ./.

Nguồn: Báo cáo số 446/BC-UBND ngày 20/12/2024 của UBND tỉnh.
 

Các tin khác

Thông báo mới

VB mới

Chủ tịch HCM và đại tướng Võ Nguyên Giáp

Thông tin tuyên truyền (PBPL ... DVC)

Footer Quảng Bình

Lượt truy cập